Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tiến hành tố tụng tạiđiểm cầu Trung tâm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Quốc Việt – Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Sơn La.
  2. bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

Thư ký phiên toà: ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S:

  • - Ông Đỗ Anh T – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
  • - Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ Công an dẫn giải gồm có Thiếu tá Trần Hùng V và Đại úy Lò Văn M – Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an thành phố S.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST-HS, ngày 28/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 93/2024/QĐXXST-HS, ngày 01/8/2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 90/2024/TB – TA, ngày 07/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Thế K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/12/2004 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Trú tại bản X, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Hoàng Ánh S, sinh năm 1979 và bà Hà Thị D, sinh năm 1984, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòatại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sơn La.
  2. Hà Văn H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/8/2007 tại huyện M, tỉnh Sơn La (khi phạm tội, bị cáo H được 16 tuổi 6 tháng 29 ngày); Trú tại bản Nà Hạ 2, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1983 và bà Vì Thị T2, sinh năm 1988, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sơn La.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn H: Luật sư Đèo Văn H1 – Đoàn Luật sư tỉnh S, có mặt tại phiên tòatại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Văn H: ông Hà Văn T3, sinh năm 1983, trú tại bản Nà Hạ 2, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La – Là bố đẻ của bị cáo H (có mặt tại điểm cầu Trung tâm).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 15 phút, ngày 19/3/2024, tổ công tác C anxã C, thành phố S phối hợp với Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, phường C phát hiện Khương đang điều khiển xe gắn máy màu đenchở theo H, nghi ngờ hai đối tượng có liên quan đến tội phạm về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu cả hai dừng xe lại để kiểm tra thì H ngồi sau ném 01 gói nilon màu xanh đang cầm ở tay phải xuống đường và bỏ chạy, bị cáo K nhặt gói nilon màu xanh bên trong có 20 viên nén màu hồng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy hồng phiến do K và H cùng mua về để sử dụng, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo K và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 20 viên nén màu hồng, nghi là ma túy hồng phiến; 01 xe máy kiểu dáng xe Wave màu đen, BKS 26AA 270.73 đã qua sử dụng.

Căn cứ vào lời khai của Hoàng Thế K, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã triệu tập Hà Văn H đến làm việc, tại Cơ quan điều tra, Hà Văn H đã thừa nhận ngày 19/3/2024 H đã cùng K đi mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy bên trong có 20 viên ma túy tổng hợp hồng phiến.

Ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 20 viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 2,05 gam; lấy 05 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,52 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định, ký hiệu H, còn lại 15 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 1,53 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu K.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 66/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 747/KL-KTHS, ngày 24/3/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,05 gam loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Thế K và Hà Văn H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20 giờ ngày 19/3/2024 H điều khiển xe máy biển kiểm soát 26AA 270.73 đi từ nhà tại bản Nà Hạ 2, xã C, huyện M đến nhà K tại bản Xum, xã C để chơi, khi đang ngồi chơi với nhau, K rủ H đi lên thành phố S uống rượu, H đồng ý và chở K lên thành phố S, khi đi đến khu vực phường C, thành phố S thì K rủ H đi mua ma túy về cùng sử dụng, H đồng ý, sau đó cả hai thống nhất sẽ đi đến quán điện tử bắn cá ở chân dốc bản Mạt, xã C tìm người đàn ông mà K và H đã từng mua ma túy trước đó, đến nơi cả hai vào quán và gặp một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện để hỏi mua ma túy, H đứng cách Khương khoảng 05m, K đã trao đổi và mua được của người đàn ông đó 01 gói ma túy có chứa 20 viên nén đồng dạng màu hồng với giá 1.900.000,đ, sau khi nhận ma túy, K và H đi ra ngoài, K đưa gói ma túy cho H rồi điều khiển xe máy chở H đi tìm nơi để cùng sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực bản C, phường C, thành phố S thì gặp tổ công tác công an xã C phối hợp với công an phường C, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Văn H là ông Hà Văn T3 trình bày:

  • - Ông là bố đẻ của bị cáo Hà Văn H, bị cáo H đã nghe lời rủ rê, lôi kéo của người khác để thực hiện tội phạm, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, rất hối hận với hành vi của mình, ông T3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo về hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Đối với chiếc xe máy do bị cáo H mang đi và sử dụng vào hành vi phạm tội là do vợ chồng ông mua cho bị cáo để bị cáo đi lại, nay bị cáo phạm tội thì ông có đề nghị xin lại chiếc xe máy trên để gia đình sử dụng.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 186/CT-VKS, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Hoàng Thế K và Hà Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thế K, Hà Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm o khoản 1 điều 52; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Thế K từ 32 đến 36 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 91, điều 101; điều 17; điều 58 Bộ luật Hình sự:
  • - Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 22 đến 26 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • - Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh; Mẫu lưu ký hiệu K = 1,53 gam.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy kiểu dáng xe Wave màu đen, BKS 26AA 270.73 đã qua sử dụng.
  • - Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Việc bị cáo H bị truy tố, xét xử về tội phạm Tàng trữ trái pháp chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan sai, tuy nhiên bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ thể chất và tinh thần, chưa được giáo dục đầy đủ về kỹ năng sống và tâm sinh lý, bị cáo phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội do bị người khác rủ rê, lối kéo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các điều luật tại Chương XII Bộ luật hình sự để xem xét xử bị cáo H mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và trở thành người công dân có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Thế K, Hà Văn H nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tố tụng: Bị cáo Hà Văn H khi phạm tội là người chưa thành niên, để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án có Hội thẩm nhân dân là Cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản H3 có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi. Có sự tham gia của người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị cáo, đúng theo quy định tại điều 76, điều 415, điều 420, 423 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi các bị cáo Hoàng Thế K, Hà Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 19/3/2024, Hoàng Thế K và Hà Văn H có hành vi tàng trữ 2,05 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của các bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 2,05 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 747/KL-KTHS, ngày 24/3/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S; L khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hoàng Thế K và Hà Văn H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo K và H chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo K là người trưởng thành, trên 18 tuổi đã có hành vi rủ rê, lôi kéo bị cáo H (dưới 18 tuổi) vào hành vi phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo Hà Văn H, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (được 16 tuổi 6 tháng 29 ngày), do đó cần xem xét áp dụng điều 91 và điều 101 Bộ luật Hình sự để lên một mức án phù hợp đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổi sung: Bị cáo K không có việc làm, tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, việc áp dụng hình phạt bổ sung khó có khả năng thi hành, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K. Đối với bị cáo H là người dưới 18 tuổi phạm tội, căn cứ điều 91 Bộ luật Hình sự do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 1,53 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu K; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe máy kiểu dáng xe Wave màu đen, BKS 26AA 270.73 đã qua sử dụng. Xác định đây là tài sản của bị cáo Hà Văn H, được bố mẹ cho để làm phương tiện đi lại, bị cáo đã sử dụng chiếc xe này vào hành vi phạm tội, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.

[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm o khoản 1 điều 52; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
    • Tuyên bố bị cáo Hoàng T4 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Thế K 34 (Ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024.
    • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K.
    Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 58; điều 91; điều 101 Bộ luật Hình sự:
    • Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Hà Văn H 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Hoàng Thế KHà Văn H, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 19/3/202, bên trong gồm có 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh, mẫu lưu ký hiệu K = 1,53 gam”, mặt sau đã được niêm phong, đóng dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) chiếc xe máy kiểu dáng Wave, màu đen, BKS 26AA 270.73, bưởng xe có chữ DETECH, tem xe có dòng chữ Wavei125; pô xe có dòng chữ HONDA, số khung: RPE1CBSPENA 45149, số máy: VDEJQ139FMBE 45149, yên xe rách, giá để chân sau không có, xe không có gương chiếu hậu, đệm cao su chân trước bên phải rách, 02 chìa khóa xe, xe đã cũ qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng Thế KHà Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo H, người bào chữa cho bị cáo H2 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND TP Sơn La (2);
  • - Chi cục THADS TP Sơn La;
  • - Công an TP Sơn La;
  • - THAPT (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện HP;
  • - Người bào chữa cho BC;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Lê Lương Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quàng Thế Khương + Hà Văn Huy tội Mua bán + Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger