Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Tố Loan

+ Bà Nguyễn Thị Kim Phương

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực- Cán bộ Tòa án

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:106/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Thị Anh T, sinh năm 1996 tại Bà Rịa V;nơi đăng ký thường trú: Khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nữ;tôn giáo: không; con ông: Không xác địnhvà con bà Võ Thị Mỹ L, sinh năm 1976;bị cáo có chồng tên Phạm Hoàng L1 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con, sinh năm 2017;Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Thư bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 10/02/2024 tiếp tục tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị Anh T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2023, hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).

Vào khoảng 22 giờ ngày 29/01/2024, T đi xe ôm đến bến xe L thuộc khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai mua 01 gói ma túy đá với số tiền 900.000 đồng của một người đàn ông tên gọi Cậu B (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Khi mua được ma túy, T mang về phòng ngủ của mình chia thành 05 gói nhỏ và cất giấu trong ngăn kéo bàn gỗ để sử dụng dần. Khoảng 22 giờ ngày 31/01/2024, T lấy 01 gói ma túy đá cất giấu vào hộp giấy màu xanh để tìm chỗ sử dụng. Khi T cùng Lâm Thị Thúy D, sinh năm 2013 (em gái T) đi bộ ra hẻm A, Nguyễn Văn C thuộc khu phố A, phường X, thành phố L để mua bánh, kẹo cho D. Trong lúc đi, T nghe điện thoại và đưa hộp giấy màu xanh có giấu ma túy cho D cầm dùm. Lúc này, Công an phường X đang đi tuần tra kiểm soát, thấy nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện tay phải D cầm một hộp giấy màu xanh có dính 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá bằng băng keo đen (T khai nhận là ma túy đá của T). Công an phường X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật. Sau đó phối hợp với Công an thành phố L khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại khu phố A, phường X, thành phố L, phát hiện trong phòng ngủ của T có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trong nỏ thủy tinh còn chất tinh thể màu vàng nhạt để trên mặt bàn gỗ và trong ngăn kéo đầu tiên của bàn gỗ có 04 gói nylon hàn kín, chứa ma túy đá (T khai nhận là ma túy đá của T cất giấu để sử dụng dần). Công an thành phố L đã thu giữ, niêm phong tang vật và đưa T, D về làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, T đã thừa nhận hành vi cất giấu ma túy để sử dụng của mình, D không biết, không liên quan đến số ma túy này.

Tại bản kết luận giám định số 304/KL-KTHS, ngày 06/02/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1, thu giữ trong hộp giấy trên tay D) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1860 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu tinh thể màu trắng (Ký hiệu M21, thu giữ trong ngăn kéo bàn gỗ trong phòng ngủ của bị cáo T) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8401 gam, loại: Methamphetamine.

Mẫu chất màu vàng nhạt(Ký hiệu M22, thu giữ trên bàn gỗ trong phòng ngủ của bị cáo T) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng thu giữ và xử lý:

- 05 gói nylon hàn kín bên trong có ma túy đá và 01 nỏ thủy tinh chứa ma túy đá. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 304/KL-KTHS ngày 06/02/2024; Một chai nhựa, một ống hút là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy thu giữ của T. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố L theo quy định pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, màu trắng T không dùng làm công cụ trao đổi, liên hệ mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L trả lại điện thoại cho T.

Tại bản cáo trạng số: 95/CT-VKS-LK ngày 17/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố: Bị cáo Võ Thị Anh T1 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Võ Thị Anh T phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự,đồng thời đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);điểm s khoản 1Điều 51; Điều38Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thị A Thưmức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữtrái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy:một gói niêm phong số 304/KL-KTHS ngày 06/02/2024; một chai nhựa, một ống hút.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáovà những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện.

Vào khoảng 22 giờ 15 phút ngày 31/01/2024,tại đường B đường N, thuộc khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, Công an phường X bắt quả tang Võ Thị Anh T đang có hành vi cất giữ 01 gói ma túy đá, có khối lượng 0,1860 gam, loại: Methamphetamine. Sau đó, Công an thành phố L khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại số A N, khu phố A, phường X, thành phố L, Đồng Nai phát hiện thu giữ tại phòng ngủ 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá và 04 gói ma túy đá, có khối lượng 0,8401 gam, loại: Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy Thư tàng trữ là 1,0261 gam, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng dần.

Như vậy, đủ cơ sở để xác định bị cáoVõ Thị Anh T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.Nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo như trên là có cơ sở.

  1. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Võ Thị Anh T3 nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Vì vậy,Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, nhằm tạo môi trường sống, học tập, lao động lành mạnh, không có tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Căn cứtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi màbị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

  1. Về tình tiết định khung: Bị cáo Võ Thị Anh T không có tình tiết tăng nặng, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị bắt, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ tình tiết liên quan đến vụ án, đã ăn năn hối cải; Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên “Cậu Ba” ở khu vực Bến xe L, thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai bán ma túy cho bị cáo T, hiện không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục xác minh, làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với Lâm Thị Thúy D (em gái T) không biết trong hộp giấy màu xanh T đưa cầm giùm có cất giấu gói ma túy nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

  1. Về xử lý vật chứng vụ án:
    • Đối với một gói niêm phong số 304/KL-KTHS ngày 06/02/2024; một chai nhựa, một ống hút là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túycần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, màu trắng T không dùng làm công cụ trao đổi, liên hệ mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L trả lại điện thoại cho T là phù hợp.
  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vàoĐiều 249Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Thị Anh T, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụngđiểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

    Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Anh T4 (Một) nămtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Tịch thu tiêu hủy một chai nhựa, một ống hút và 01 gói niêm phong số 304/KL-KTHS ngày 06/02/2024của Phòng K Công an tỉnh Đ.

    (Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2024).

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTTQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Võ Thị Anh T5 nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáođược quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - CA TP. Long Khánh;
  • - Chi cục THADS TP. Long Khánh;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger