Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng.

ông Lê Đức Cơ.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Lan – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22, 25, 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ và bà Lê Thị L; vợ là: Lê Thị Ngọc H và có 01 con chung sinh năm 2023; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  2. Trần Minh S, sinh năm 1997.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Ngô Thị D; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 21/7/2023, chuyển tạm giam ngày 27/7/2023. Có mặt.

  3. Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn A và bà Ngô Thị X, vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  4. Nguyễn Trọng L1, sinh năm 2001.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng C và bà Nguyễn Thị P; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  5. Nguyễn Văn L2, sinh năm 2001.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Nguyễn Thị V; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  6. Nguyễn Xuân T2, sinh năm 2000.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân N và bà Phạm Thị H1; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  7. Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1983.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn Kinh Đào, xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12 (là Đảng viên Đ2); dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Vũ Thị H2; vợ là: Lê Thị T3 và có hai con chung, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 25/5/2023, chuyển tạm giam ngày 03/6/2023. Có mặt.

  8. Lê Văn H3, sinh ngày 08/11/2005.

    Tên gọi khác: không có.

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Lê Văn T4 và bà Nguyễn Thị T5; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023, chuyển tạm giam ngày 12/6/2023. Có mặt.

Người giám hộ của bị cáo Lê Văn H3: bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1970 (mẹ đẻ của Lê Văn H3) và ông Lê Văn T4, sinh năm 1969 (bố đẻ của H3). Có mặt.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H3: ông Nguyễn Ngọc C1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt.

2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Lê Thị L, sinh năm 1977. Có mặt.

    Nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

  • Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1974. Có mặt.

    Nơi cư trú: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

  • Lê Công T6, sinh năm 1970. Vắng mặt.

    Nơi cư trú: tiểu khu D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

  • Lê Văn T7, sinh năm 1995. Có mặt.

    Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội.

  • Công ty cổ phần V1.

    Đại diện theo pháp luật: bà Phạm Thanh X1, chức vụ: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.

    Đại diện theo ủy quyền: ông Trần Văn N1, sinh năm 1990. Có mặt.

    Địa chỉ công ty: No7, L, khu C, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

    Địa chỉ người đại diện: thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày 24/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M kiểm tra bắt quả tang tại quán K2 ở địa chỉ: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội, Nguyễn Xuân T, sinh năm 1997 là quản lý quán, cùng một số đối tượng có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể như sau:

Tại phòng hát VIP 2, có các đối tượng: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1983, trú tại: thôn K, xã A; Đỗ Anh T8, sinh năm 1993, trú tại: thôn Đ, xã L, huyện Q, thành phố Hà Nội; Đỗ Trúc L3, sinh năm 2003, trú tại: Ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang và Nguyễn Phương T9, sinh ngày 16/02/2009, trú tại: khu V, Phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ tại mặt bàn trong phòng VIP 2: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, 01 mảnh viên nén màu xanh, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng - đỏ, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime 20.000 đồng và 01 túi nilon có bám dính tinh thể màu trắng. Nguyễn Văn Đ1 khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “ke”, mảnh viên nén màu xanh là ma túy “kẹo” do Đ1 nhờ Nguyễn Xuân T mua để sử dụng cùng với Đỗ Anh T8, Đỗ Trúc L3 và Nguyễn Phương T9. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Văn Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A73 5G màu xanh, số Imei 352828292131313, số thuê bao 0967749007 và 0934523366, thu giữ của Đỗ Anh T8 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu xanh số Imei 1 351044639157109, số Imei2 351044639965196, số thuê bao 0869036845 và 0985831497, 01 xe máy nhãn hiệu Air Blade màu đen bạc Biển kiểm soát 38G1-227.42, số khung 181919, số máy 2218875.

Ngày 25/5/2023, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 112/QĐ-CSĐT đến Phòng K3 Công an Thành phố H, yêu cầu giám định chất bột màu trắng thu giữ được tại Phòng hát VIP2 quán K2 ngày 24/5/2023 có phải là ma túy không? loại gì? và khối lượng?

Tại Kết luận giám định số 3452A/KLGĐ-PC09 ngày 03/6/23 của Phòng K3 - Công an Thành phố H đã kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (thu giữ trên 01 đĩa sứ màu trắng) có khối lượng 0,235gam là ma tuý loại Ketamine. 01 mảnh viên nén màu xanh có khối lượng 0,113gam là ma tuý loại MDMA; 01 thẻ nhựa màu trắng đỏ; 01 ống hút tự tạo bằng tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng và 01 túi nilong đều có dính ma tuý Ketamine”.

Tại phòng hát tầng 1 (cạnh cầu thang) của quán, có các đối tượng: Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; Nguyễn Trọng L1, sinh năm 2001; Nguyễn Văn L2, sinh năm 2001; Nguyễn Xuân T2, sinh năm 2000, cùng trú tại: thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội; Phan Mai Mộng L4, sinh năm 2004, trú tại: xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nguyễn Thị L5, sinh ngày 21/07/2007, trú tại: Ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1998, trú tại: Ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang và Lê Thị G, sinh năm 2001, trú tại: thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ tại mặt bàn trong phòng hát tầng 1: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng-xanh, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng và 01 túi nilon màu trắng có bám dính tinh thể màu trắng được thu giữ trên nền phòng hát. Nguyễn Văn T1, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn L2 và Nguyễn Xuân T2 khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “ke” mua về để 04 đối tượng cùng tổ chức sử dụng.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nguyễn Văn T1: 01 xe ô-tô nhãn hiệu KIA, Biển kiểm soát 30E-366.22, màu bạc, số khung RNYTB51M5GC079909, số máy G4LAGP021549, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16 màu đen, số IMEI 865717066150346 có số thuê bao 0706805743, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 357210094614264 có số thuê bao 0973372516; thu giữ của Nguyễn Văn L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng, số IMEI 354835095008182 có số thuê bao 0866917338; thu giữ của Nguyễn Trọng L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI1 353279111529437, số IMEI2 353280111529435 có số thuê bao 0368916792; thu giữ của Nguyễn Xuân T2 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI 359128077493886 có số thuê bao 0358514047; thu giữ của Nguyễn Xuân T 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu bạc, số IMEI 359472081715060, bên trong có số thuê bao 0961294263.

Lực lượng Công an thu giữ, niêm phong số vật chứng trên và đưa các đối tượng về trụ sở Công an để làm rõ.

Ngày 25/5/2023, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 111/QĐ-CSĐT đến Phòng K3 Công an Thành phố H, yêu cầu giám định chất bột màu trắng thu giữ được tại Phòng hát tầng 1 quán K2 ngày 24/5/2023 có phải là ma túy không? loại gì? và khối lượng?

Tại Kết luận số 3448A/KLGĐ-PC09 ngày 02/6/2023 của Phòng K3 - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (tinh thể được thu trên đĩa sứ màu trắng) có khối lượng 0,220 gam là ma tuý loại Ketamine, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng-xanh, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime 20.000₫ và 01 túi nilong đều có dính ma tuý Ketamine”.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra nồng độ ma túy trong nước tiểu đối với Nguyễn Văn T1, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn Đ1, Đỗ Anh T8, Lê Thị G, Nguyễn Thị Hải Y, Phan Mai Mộng L4, Nguyễn Thị L5, Đỗ Trúc L3, Nguyễn Phương T9, kết quả test nhanh ngày 25/5/2023: các đối tượng trên đều dương tính đối với chất ma túy.

Ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Xuân T, và Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Nguyễn Xuân T tại quán K2, địa chỉ: thôn K, xã A, kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong, lập biên bản và bàn giao lại cho gia đình quản lý các đồ vật, tài liệu sau:

  • Tại phòng hát dưới tầng 1: 01 màn hình Samsung, 01 màn hình không nhãn hiệu, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa CASOULD, 01 đèn Laze RGB2000, 01 cục trầm không nhãn hiệu, 01 màn hình VietTV cùng hệ thống âm ly đã đóng hộp, 06 đèn quay nhãn hiệu Kimu, 02 Micro không nhãn hiệu.
  • Tại phòng hát VIP 2: 01 màn hình S1, 01 màn hình Kuking, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa UPMAS, 01 cục trầm nhãn hiệu JBL, 01 màn hình VietKTV và hệ thống âm ly đã đóng hộp, 02 micro không nhãn hiệu, 06 đèn quay BEAM, 01 đèn laze RGB1500.

Ngày 09/6/2023, Lê Văn H3, sinh ngày 08/11/2005, trú tại thôn Đ, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội đến Cơ quan sảnh sát điều tra Công an huyện M đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Xuân T, Nguyễn Văn T1 ngày 24/5/2023 tại quán K2.

Ngày 13/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Lệnh khám xét địa điểm chỗ ở của Lê Văn H3 có địa chỉ tại: thôn Đ, xã A, huyện M. Kết quả khám xét: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Ngày 30/6/2023, anh Lê Văn T7, sinh năm 1995, trú tại thôn Đoan Nữ, xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức (là anh trai Lê Văn H3) giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen bạc, có Biển kiểm soát 30N8-8074, số khung 182350, số máy 2682447, là phương tiện Lê Văn H3 sử dụng để mua bán trái phép chất ma túy ngày 24/5/2023.

Ngày 21/7/2023, Trần Minh S, sinh năm 1997, trú tại: xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội (là nhân viên quán K2) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đầu thú về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 24/5/2023 với Nguyễn Xuân T tại quán K2.

Quá trình điều tra làm rõ như sau:

Đầu năm 2023, Nguyễn Xuân T được mẹ đẻ là chị Lê Thị L giao quản lý quán, trông coi quán K2. T biết có khách đến quán hát K và sử dụng ma túy tại quán nhưng không ngăn cản mà còn chuẩn bị công cụ, phương tiện để khách sử dụng ma túy tại quán nhằm mục đích thu lời bất chính. Đối với các phòng hát thường, T tính giá là 150.000 đồng/giờ; đối với phòng có khách bay lắc và sử dụng ma túy thì T tính giá phòng là 300.000 đồng/giờ. Khoảng cuối tháng 4 năm 2023, Trần Minh S có đến làm việc tại quán của T, hai bên thỏa thuận miệng với nhau (không có hợp đồng lao động): S sẽ làm công việc phục vụ phòng khi có khách, ngoài ra T còn chỉ đạo S, khi khách có nhu cầu sử dụng ma túy thì T chuẩn bị đĩa sứ, thẻ nhựa và S mang vào cho khách để khách sử dụng ma túy, T không trả tiền công cho S, chỉ cung cấp chỗ ngủ.

Khoảng 21 giờ ngày 24/5/2023, Nguyễn Văn Đ1 rủ bạn là Đỗ Anh T8 đi hát và gọi điện thoại qua Z cho Nguyễn Xuân T đặt phòng. T8 điều khiển xe máy Biển kiểm soát 28G1-227.42 của T8 chở Đ1 đến quán K2 gặp Nguyễn Xuân T. T bảo Đ1 và T8 lên phòng VIP 2 của quán, sau khi cả hai hát được một lúc thì Đ1 đi xuống tầng, bảo T gọi cho 02 nữ nhân viên phục vụ và mua hộ nửa chỉ “Ke” với 02 viên ma tuý “Kẹo”. T đồng ý và gọi điện thoại qua ứng dụng M1 bảo Lê Văn H3 “mang đến quán, có khách mua nửa chỉ ma tuý ke và 02 viên ma tuý kẹo”, H3 thống nhất và bán cho T với giá là 1.600.000 đồng. T để 1.600.000 đồng trên mặt bàn ở quầy và bảo với Trần Minh S “tý có thằng mang đồ đến thì đưa 1.600.000 đồng cho nó”, S không nói gì. Sau đó T tiếp tục gọi điện cho Trần Xuân T10, sinh năm 1987, trú tại: xã H, huyện M thì Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 2003, trú tại: xóm Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình nghe máy, T bảo cho 02 nữ nhân viên lên quán K2, nên Q chở Nguyễn Phương T9 và Đỗ Trúc L3 đến vào phòng hát VIP 2.

Sau khi nói chuyện điện thoại với Nguyễn Xuân T, Lê Văn H3 điều khiển xe máy Biển kiểm soát 30N8-8074 đi từ khu vực thôn Đ, xã A đến khu vực thôn C, xã P, huyện M gọi cho một người tên “C” có số điện thoại đuôi “901” mua nửa chỉ ma tuý ke và 02 viên ma tuý kẹo với số tiền là 1.500.000 đồng. H3 cầm số ma tuý trên đi đến quán K2 để số ma tuý vừa mua được để trên quầy và cầm 1.600.000 đồng mà T đã để trên bàn từ trước. Lúc này S cầm 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa và số ma tuý trên vào phòng VIP 2 để ở mặt bàn cho khách sử dụng rồi đi ra. Đ1 bảo T9 đổ “Ke” ra đĩa để T9 tự dùng, còn Đ1 bẻ một viên rưỡi ma tuý kẹo, nghiền nhỏ, pha vào nước Coca để trên mặt bàn. Sau đó Đ1 cùng với T8, T9 và L3 cùng sử dụng ma tuý, đến khoảng 23 giờ 30 phút thì bị bắt quả tang.

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng hát tầng 1, kết quả điều tra làm rõ như sau: khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 24/5/2023, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Trọng L1 và Nguyễn Văn T1 rủ nhau đến quán K2 để hát và góp tiền mua ma tuý về sử dụng, tiền phòng hát và mua ma tuý, sau khi đi hát về sẽ chia đều cho cả 4 người. T1 gọi điện cho Nguyễn Xuân T qua ứng dụng Mesenger với nội dung: “Anh cho em một phòng hát để bay”, ý là muốn thuê một phòng hát để sử dụng ma tuý và bay lắc, Nguyễn Xuân T đồng ý. Nguyễn Văn T1 điều khiển xe ô-tô Biển kiểm soát 30E-36622 chở cả nhóm đến quán K2 và được S dẫn vào phòng hát ở tầng 1. S cầm đĩa sứ và thẻ nhựa do Nguyễn Xuân T đã chuẩn bị trước đó mang vào phòng hát. Một lúc sau Thuấn nhờ Nguyễn Xuân T gọi cho 01 nhân viên phục vụ, Nguyễn Xuân T gọi cho Trần Xuân T10 để yêu cầu nhân viên phục vụ đến quán nhưng do T10 đi vắng nên Nguyễn Ngọc Q nghe máy. Cùng lúc này, Nguyễn Văn T1 nhắn tin cho Lê Thị G, Nguyễn Trọng L1 nhắn tin cho Nguyễn Thị L5, Nguyễn Văn L2 nhắn tin cho Nguyễn Thị Hải Y rủ đến quán K2 để chơi (tất cả G, Lắm, Y, L4 là nhân viên của T10) nên Q chở G, L5, Y, L4 đến quán K2 vào phòng hát của T1. Nguyễn Văn T1 gọi điện thoại từ số thuê bao 0973372516 của T1 đến số thuê bao 0386026886 của Lê Văn H3 để hỏi mua mua tuý, nhưng H3 không nghe máy. T1 để điện thoại tại chỗ ngồi cạnh L1 sau đó lên bục hát, một lúc sau H3 gọi lại vào số điện thoại 0973.372.xxx của Nguyễn Văn T1 thì L1 ngồi gần đó cầm máy và nghe, hỏi mua 02 chỉ ma tuý ke, 04 viên ma tuý kẹo, H3 đồng ý. Khoảng 30 phút sau thì H3 đến, T1 đưa cho H3 5.200.000 đồng (gồm 5.000.000 đồng của L1 và 200.000 đồng của T1 ứng trước) để mua ma tuý. H3 cầm tiền đi đến thôn C, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội tiếp tục gọi điện thoại cho một người tên C để mua 02 chỉ ma tuý ke, 04 viên ma tuý kẹo với số tiền là 4.200.000 đồng và mang số ma tuý vào phòng hát giao cho T1. Sau khi nhận ma tuý, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Xuân T2 cùng 04 nhân viên nữ Phan Mai Mộng L4, Lê Thị G, Nguyễn Thị L5 và Nguyễn Thị Hải Y cùng nhau sử dụng ma tuý, đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tang vật như nêu trên.

Cáo trạng số 72/CT-VKS-MĐ ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố:

  • Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn Đ1, Trần Minh S về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
  • Nguyễn Xuân T về các tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • Lê Văn H3 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn Đ1, Trần Minh S và Lê Văn H3 về các tội danh theo điều luật đã nêu;

Rút quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, giữ nguyên truy tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Trọng L1, Trần Minh S, xử phạt mỗi bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2 xử phạt mỗi bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H3 từ 06 năm đến 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy:

    • 03 phong bì được niêm phong bên trong chứa 01 túi nilong chứa ma túy Ketamine, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa ma túy Ketamine, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng-xanh, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng, 01 túi nilon màu trắng có đều bám dính ma túy Ketamine thu giữ tại phòng hát tầng 01;
    • 03 phong bì được niêm phong bên trong có 01 túi nilong chứa tinh thể ma túy Ketamine và 01 mảnh viên nén màu xanh ma túy MDMA, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng - đỏ, 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime 20.000 đồng và 01 túi nilon có bám dính tinh thể màu trắng thu giữ tại phòng VIP 2.

    Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước:

    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 357210094614264 có số thuê bao 0973372516 thu giữ của Nguyễn Văn T1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Xuân T và Lê Văn H3.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng, số IMEI 354835095008182 có số thuê bao 0866917338 thu giữ của Nguyễn Văn L2, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Thị Hải Y.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI1 353279111529437, số IMEI2 353280111529435 có số thuê bao 0368916792 thu giữ của Nguyễn Trọng L1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Thị L5.
    • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu bạc, số IMEI 359472081715060, bên trong có số thuê bao 0961294263 thu giữ của Nguyễn Xuân T, sử dụng để liên lạc với Lê Văn H3, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn Đ1.
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A73 5G màu xanh, số Imel 352828292131313, số thuê bao 0967749007 và 0934523366 thu giữ của Nguyễn Văn Đ1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Xuân T.

    Trả lại:

    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16 màu xanh, số IMEI 865717066150346 có số thuê bao 0706805743 cho Nguyễn Văn T1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
    • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI 359128077493886 có số thuê bao 0358514047 cho Nguyễn Xuân T2 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

    Trả lại chị Lê Thị L và anh Nguyễn Xuân Đ các tài sản đang giao quản lý gồm:

    • Tại phòng hát dưới tầng 1: 01 màn hình Samsung, 01 màn hình không nhãn hiệu, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa CASOULD, 01 đèn Laze RGB2000, 01 cục trầm không nhãn hiệu, 01 màn hình VietTV cùng hệ thống âm ly đã đóng hộp, 06 đèn quay nhãn hiệu Kimu, 02 Micro không nhãn hiệu.
    • Tại phòng hát Vip2: 01 màn hình Samsung, 01 màn hình kuking, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa UPMAS, 01 cục trầm nhãn hiệu JBL, 01 màn hình VietKTV và hệ thống âm ly đã đóng hộp, 02 micro không nhãn hiệu, 06 đèn quay BEAM, 01 đèn laze RGB1500.

    Buộc Lê Văn H3 phải nộp sung quỹ Nhà nước tiền thu lời bất chính từ việc mua hộ ma túy cho Nguyễn Văn Đ1 1.600.000 đồng và bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 5.200.000 đồng.

    Về án phí: buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H3 trình bày luận cứ: Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đơn giản; trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điêm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp hơn mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị L và Nguyễn Xuân Đ xin được nhận lại các tài sản là hệ thống trang thiết bị âm thanh, chiếu sáng trong phòng hát bị niêm phong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại. Có đủ căn cứ xác định, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét việc rút truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức đối với Nguyễn Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng: sau khi cho Nguyễn Văn Đ1 sử dụng phòng hát Karaoke Vip2 và gọi 2 nhân viên phục vụ cho Đ1 và T8, khi Nguyễn Văn Đ1 nhờ Nguyễn Xuân T mua hộ ma túy thì T đã nhận lời. Cả Đ1 và T đều khai nhận chỉ mua hộ ma túy cho nhau, không có lãi; mặt khác hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân T đối với phòng Vip2 chỉ cấu thành khi ngoài việc T cung cấp địa điểm, phương tiện sử dụng ma túy, phương tiện hỗ trợ bay lắc thì phải có việc T cung cấp ma túy cho Nguyễn Văn Đ1 để Đ1 tổ chức cho các đối tượng trong phòng Vip2 sử dụng.

Việc rút quyết định truy tố Nguyễn Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và Đình chỉ việc xét xử đối bị cáo Nguyễn Xuân T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Xuân T là quản lý quán K2, khi biết khách đến hát tại quán có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng Nguyễn Xuân T không ngăn cản mà còn chỉ đạo Trần Minh S chuẩn bị công cụ, phương tiện là thẻ nhựa, đĩa sứ để phục vụ khi khách có nhu cầu sử dụng ma tuý nhằm mục đích thu lời bất chính, cụ thể:

Ngày 24/5/2023, Nguyễn Xuân T đã có hành vi mua hộ ma tuý và đồng ý cho Nguyễn Văn Đ1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Đỗ Anh T8, Đỗ Trúc L3 và Nguyễn Phương T9 tại phòng VIP 2 của quán, tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma tuý, Đỗ Trúc L3 mới 14 tuổi 03 tháng 08 ngày.

Ngoài ra, cùng ngày 24/5/2023, Nguyễn Xuân T còn đồng ý và chỉ đạo Trần Minh S cung cấp công cụ, phương tiện cho các đối tượng Nguyễn Văn T1, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với Nguyễn Thị L5, Lê Thị G, Phan Mai Mộng L4 và Lê Thị L sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng hát tầng 1 của quán, tại thời điểm sử dụng ma túy Nguyễn Thị L5 mới 15 tuổi 10 tháng 3 ngày.

Trần Minh S là nhân viên quán K2, đã có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện là thẻ nhựa, đĩa sứ và bê ma tuý vào phòng cho khách sử dụng trái phép chất ma tuý.

Lê Văn H3 đã có hành vi bán ma tuý K1 và MDMA cho Nguyễn Xuân T với số tiền 1.600.000 đồng và bán cho Nguyễn Văn T1 với số tiền 5.200.000 đồng nhằm mục đích thu lời bất chính.

Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn Đ1, Trần Minh S đã phạm vào tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Nguyễn Xuân T đã phạm vào tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Lê Văn H3 phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tính chất hành vi các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cao cho xã hội, trực tiếp xâm hại tới chính sách độc quyền quản lý và độc quyền sử dụng các chất ma túy của Nhà nước vào mục đích chữa bệnh, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe người khác, do đó phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bảo đảm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, tuổi đời còn rất trẻ nên nhất thời phạm tội nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Ngoài ra đối với Nguyễn Văn Đ1 có bố đẻ, bố vợ, ông nội, cụ nội đều là người có công, được tặng thưởng nhiều huân huy chương, giấy khen, bằng khen, danh hiệu “Người tốt việc tốt”, bản thân Nguyễn Văn Đ1 trước thời điểm phạm tội luôn gương mẫu, chấp hành tốt pháp luật, được tặng nhiều giấy khen; Hợp tác xã nông nghiệp xã A cũng xác nhận thành tích của cá nhân Nguyễn Văn Đ1 và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên có căn cứ áp dụng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Đối với các bị cáo Trần Minh S có bố đẻ là người có công, được tặng thưởng nhiều huân huy chương, sau khi phạm tội S đã ra đầu thú; Nguyễn Xuân T, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân T2 có ông nội là người có công đực tặng thưởng huân chương kháng chiến; Nguyễn Trọng L1 có mẹ đẻ được tặng thưởng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở, kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, ông ngoại là người có công, được tặng thưởng huân huy chương, hàng xóm xác nhận là người con, cháu hiếu thảo, chấp hành tốt pháp luật, thân thiện, kính trọng và biết giúp đỡ mọi người đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa; đối với Lê Văn H3 sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Nên có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo này.

Xem xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:

Đối với Nguyễn Xuân T là quản lý quán Karaoke, trực tiếp tiếp nhận khách có yêu cầu sử dụng phòng hát để sử dụng ma túy, phân công Trần Minh S chuẩn bị công cụ để các đối tượng tại hai phòng hát sử dụng ma túy, gọi tiếp viên phục vụ, mua ma túy giúp Nguyễn Văn Đ1 nên phải chịu trách nhiệm chính và cao nhất.

Đối với Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp nhờ Xuân T mua hộ ma túy và gọi nhân viên phục vụ nên phải chịu trách nhiệm tướng xứng với tính chất hành vi phạm tội của mình.

Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Trọng L1 cùng rủ nhau góp tiền để tổ chức và trực tiếp cũng như gọi và cho nhân viên phục vụ sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm bằng nhau.

Đối với Trần Minh S giúp việc mang dụng cụ cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên chịu trách nhiệm về hành vi giúp sức của mình.

Lê Văn H3 là đối tượng bán ma túy nên chịu trách nhiệm độc lập về tội đã phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, Lê Văn H3 phạm tội có tính tư lợi nhưng khi phạm tội ở độ tuổi vị thành niên, hiện chưa có vợ con và kinh tế riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về vật chứng: căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy:

Số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Số tiền 1.600.000 đồng Lê Văn H3 bán ma túy cho Nguyễn Xuân T và 5.200.000 đồng bán ma túy cho Nguyễn Văn T1 là tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 02 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng, tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Các dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Gồm có:

  • 03 phong bì được niêm phong bên trong chứa 01 túi nilong chứa ma túy Ketamine, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa ma túy Ketamine, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng-xanh, 01 túi nilon màu trắng có đều bám dính ma túy Ketamine thu giữ tại phòng hát tầng 01;
  • 03 phong bì được niêm phong bên trong có 01 túi nilong chứa tinh thể ma túy Ketamine và 01 mảnh viên nén màu xanh ma túy MDMA, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, bên trên mặt đĩa có chứa tinh thể màu trắng, 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng - đỏ và 01 túi nilon có bám dính tinh thể màu trắng thu giữ tại phòng VIP2.

Các điện thoại sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước. Gồm có:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 357210094614264 có số thuê bao 0973372516 thu giữ của Nguyễn Văn T1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Xuân T và Lê Văn H3.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng, số IMEI 354835095008182 có số thuê bao 0866917338 thu giữ của Nguyễn Văn L2, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Thị Hải Y.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI1 353279111529437, số IMEI2 353280111529435 có số thuê bao 0368916792 thu giữ của Nguyễn Trọng L1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Thị L5.
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu bạc, số IMEI 359472081715060, bên trong có số thuê bao 0961294263 thu giữ của Nguyễn Xuân T, sử dụng để liên lạc với Lê Văn H3, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn Đ1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A73 5G màu xanh, số Imel 352828292131313, số thuê bao 0967749007 và 0934523366 thu giữ của Nguyễn Văn Đ1, sử dụng để liên lạc với Nguyễn Xuân T.

Đối với các tài sản không liên quan hoặc bị sử dụng trái phép để thực hiện hành vi phạm tội mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu, cần trả lại gồm:

  • Trả cho Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16 màu xanh, số IMEI 865717066150346 có số thuê bao 0706805743.
  • Trả cho Nguyễn Xuân T2: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI 359128077493886 có số thuê bao 0358514047.

Đối với các tài sản đang giao cho chị Lê Thị L và anh Nguyễn Xuân Đ quản lý, quá trình điều tra xác định là tài sản của vợ chồng chị L (bố mẹ đẻ của Xuân T), giao cho T quản lý, trông coi, phục vụ khách hát karaoke, anh chị không biết việc T sử dụng những đồ vật trên để phục vụ khách sử dụng ma túy, bay lắc nên trả lại cho chị L và anh Đ. Gồm:

  • Tại phòng hát dưới tầng 1: 01 màn hình Samsung, 01 màn hình không nhãn hiệu, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa CASOULD, 01 đèn Laze RGB2000, 01 cục trầm không nhãn hiệu, 01 màn hình VietTV cùng hệ thống âm ly đã đóng hộp, 06 đèn quay nhãn hiệu Kimu, 02 Micro không nhãn hiệu.
  • Tại phòng hát Vip2: 01 màn hình Samsung, 01 màn hình kuking, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa UPMAS, 01 cục trầm nhãn hiệu JBL, 01 màn hình VietKTV và hệ thống âm ly đã đóng hộp, 02 micro không nhãn hiệu, 06 đèn quay BEAM, 01 đèn laze RGB1500.

Đối với các thẻ sim số thu giữ cùng điện thoại sử dụng vào việc phạm tội của các bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với các tài sản gồm:

01 xe máy nhãn hiệu Air Blade màu đen bạc Biển kiểm soát: 38G1-227.42, số khung 181919, số máy 2218875 mà Đỗ Anh T8 sử dụng để chở Nguyễn Văn Đ1 đến quán K2, cơ quan điều tra xác định xe đăng ký chính chủ mang tên Lê Công T6, sinh năm 1970, trú tại: tiểu khu D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Qua tra cứu, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, anh Lê Công T6 khai nhận đã mua lại chiếc xe máy trên từ năm 2018, cho T8 mượn làm phương tiện đi làm. Anh T6 không biết việc T8 sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 24/5/2023 nên Cơ quan điều tra trả lại Lê Công T6 là đúng.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen bạc, có Biển kiểm soát: 30N8-8074 số khung 182350, số máy 2682447 mà Lê Văn H3 dùng để đi mua ma túy, cơ quan điều tra xác định xe đăng ký chính chủ mang tên Nguyễn Thị Thanh T11, trú tại thôn N, X, T, qua xác minh không có người nào tên Nguyễn Thị Thanh T11 đang sinh sống tại địa chỉ như trên. Qua tra cứu, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, anh Lê Văn T7 khai nhận đã mua lại chiếc xe máy trên từ một cửa hàng xe máy cũ T7 không nhớ địa chỉ cụ thể từ năm 2020, để làm phương tiện đi lại cho gia đình, T7 không biết việc H3 sử dụng xe máy trên để đi mua bán ma túy, nên Cơ quan điều tra trả lại Lê Văn T7 là đúng.

Đối với 01 xe ô-tô nhãn hiệu KIA, Biển kiểm soát: 30E-366.22, màu bạc, số khung RNYTB51M5GC079909, số máy G4LAGP021549 mà Nguyễn Văn T1 sử dụng để chở T2, L2, L1 đi đến quán K2, Cơ quan điều tra xác định xe đăng ký chính chủ mang tên Công ty cổ phần V1, có địa chỉ: tổ dân phố số H Đ, Quận H, thành phố Hà Nội. Nguyễn Văn T1 ký hợp đồng lao động với công ty và được công ty giao xe từ tháng 4/2023 để làm dịch vụ vận tải hành khách, công ty không biết việc T1 sử dụng xe trên để chở các đối tượng khác đi thực hiện hành vi phạm tội. Qua tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, nên Cơ quan điều tra trả lại Công ty cổ phần V1 là đúng.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 màu xanh số Imeil 351044639157109, số Imei2 351044639965196 thu giữ của Đỗ Anh T8 do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T8 là đúng quy định.

Đối với người tên C có số thuê bao 0878717901 đã bán ma tuý cho H3, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu số thuê bao 0878717901 là chị Trần Thị Thanh T12, sinh năm 2006, trú tại H T, phường H, thành phố N, tỉnh Quảng Nam. Chị T12 khai không đăng ký số thuê bao trên, không cho ai mượn căn cước công dân để đăng ký số thuê bao trên, không không biết ai sở hữu số thuê bao trên và không quen biết Lê Văn H3 và người thanh niên tên C có đặc điểm, lý lịch như lời khai của H3 nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở điều tra xác minh để xử lý là đúng.

Đối với số thuê bao 0973372516, Cơ quan điều tra xác minh xác định chủ sở hữu là chị Ngô Thị X, sinh năm 1980, trú tại thôn K, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Bà X khai có đăng ký số thuê bao trên và sử dụng đến năm 2022 thì không sử dụng nữa, cho con trai là Nguyễn Văn T1 tiếp tục sở hữu số thuê bao trên, nhưng bà X không biết việc T1 sử dụng số thuê bao trên để trao đổi mua bán trái phép chất ma túy và đối với số thuê bao 0386026886, quá trình điều tra xác định đăng ký tên anh Nguyễn Trung D1, sinh năm: 1988, trú tại: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Anh D2 khai có đăng ký số thuê bao trên từ năm 2021 và sử dụng khoảng 2 tháng thì bị mất, từ đó đến nay, anh D2 không biết ai là người sử dụng số thuê bao trên và không quen biết Lê Văn H3 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Trong vụ án này còn có các đối tượng Lê Thị G, Phan Mai Mộng L4, Nguyễn Thị Hải Y và Nguyễn Thị L5, quá trình điều tra xác định, ngày 24/5/2023, 04 nhân viên nữ không biết việc 04 bị can T1, L1, L2, T2 bàn bạc nhau mua ma tuý về sử dụng, đến khi Nguyễn Văn T1 mang ma túy vào phòng hát thì tất cả các đối tượng đều sử dụng chung nên ngày 01/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 264, 265, 266, 267 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với G, L4, Y, Lắm phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với Đỗ Anh T8, Nguyễn Phương T9, Đỗ Trúc L3 quá trình điều tra xác định, ngày 24/5/2023, Đ1 và T8 rủ nhau đi hát tại quán K2, T8 không biết việc Đ1 trao đổi mua bán ma túy với Nguyễn Xuân T, khi T chỉ đạo S mang ma túy vào để vào đĩa sứ trên bàn thì Đ1, T8, T9, L3 cùng nhau sử dụng, nên ngày 01/6/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 268, 269, 270 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với L3, T9, T8 là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với chủ quán K2 là bà Lê Thị L (mẹ của Nguyễn Xuân T), do chị L giao quán cho T quản lý và không biết việc T tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: các bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 325 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T.
  • Điểm b, c khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Trần Minh S.
  • Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn H3.

Tuyên bố:

  • Các bị cáo: Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Xuân T2, Nguyễn Trọng L1, Nguyễn Văn Đ1, Trần Minh S, Nguyễn Xuân T phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Bị cáo Lê Văn H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Đình chỉ việc xét xử đối với bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

  • Nguyễn Xuân T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Nguyễn Văn Đ1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Trần Minh S 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/7/2023.
  • Nguyễn Trọng L1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Nguyễn Văn T1 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Nguyễn Văn L2 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Nguyễn Xuân T2 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2023.
  • Lê Văn H3 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của các bị cáo.

+ Buộc Lê Văn H3 phải nộp lại sung quỹ Nhà nước số tiền 6.800.000 đồng là tiền bán ma túy cho Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn T1.

Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen, số IMEI 357210094614264 có số thuê bao 0973372516 thu giữ của Nguyễn Văn T1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng, số IMEI 354835095008182 có số thuê bao 0866917338 thu giữ của Nguyễn Văn L2.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu trắng, số IMEI1 353279111529437, số IMEI2 353280111529435 có số thuê bao 0368916792 thu giữ của Nguyễn Trọng L1.
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu bạc, số IMEI 359472081715060, bên trong có số thuê bao 0961294263 thu giữ của Nguyễn Xuân T.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A73 5G màu xanh, số Imei 352828292131313, số thuê bao 0967749007 và 0934523366 thu giữ của Nguyễn Văn Đ1.

Trả lại:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16 màu xanh, số IMEI 865717066150346 có số thuê bao 0706805743 cho Nguyễn Văn T1.
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI 359128077493886 có số thuê bao 0358514047 cho Nguyễn Xuân T2.

Trả lại chị Lê Thị L và anh Nguyễn Xuân Đ:

  • 01 màn hình Samsung, 01 màn hình không nhãn hiệu, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa CASOULD, 01 đèn Laze RGB2000, 01 cục trầm không nhãn hiệu, 01 màn hình VietTV cùng hệ thống âm ly đã đóng hộp, 06 đèn quay nhãn hiệu Kimu, 02 Micro không nhãn hiệu.
  • 01 màn hình Samsung, 01 màn hình kuking, 02 loa JBL, 02 loa BMB, 02 loa UPMAS, 01 cục trầm nhãn hiệu JBL, 01 màn hình VietKTV và hệ thống âm ly đã đóng hộp, 02 micro không nhãn hiệu, 06 đèn quay BEAM, 01 đèn laze RGB1500.

Tịch thu tiêu hủy các thẻ sim số thu giữ cùng điện thoại sử dụng vào việc phạm tội của các bị cáo gồm số thuê bao 0973372516, số thuê bao 0866917338, số thuê bao 0368916792, số thuê bao 0961294263, số thuê bao 0967749007 và 0934523366; 02 đĩa sứ mẫu vật.

Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/10/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

- Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Công an huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã A (thay TBKQXX);
  • - UBND xã V (thay TBKQXX);
  • - Các bị cáo;
  • - Người giám hộ của bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Đức Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ255
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger