|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 26-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Thu Thảo
- Bà Phan Thị Xuân Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1977, sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có đăng ký; Chỗ ở: Ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Võ Thị N; Bị cáo có chồng: Danh Vàng, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền sự: Không.
Tiền án:
Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 198/2019/HSST ngày 22/11/2019, bản án nhận định bị cáo tái phạm. Ngày 27/01/2022 bị cáo chấp hành xong tại trại giam X.
Nhân thân:
+ Năm 1994, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 32/HS.ST ngày 18/03/1994.
+ Năm 1998, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 58/HSST ngày 22/04/1998.
+ Năm 1999, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 1149/HSST ngày 15/06/1999.
+ Năm 2008, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 50/2008/HSST ngày 01/02/2008.
+ Năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 201/2017/HSST ngày 17/08/2017.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/11/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số B, đường số H, Tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số B, đường số H, Tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Nguyễn Thị Ngọc H điều khiển xe đạp nhãn hiệu Martin 107 màu trắng để đi bán vé số dạo tại khu vực ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi qua nhà của anh Đặng Thanh T tại địa chỉ số B đường H, tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì H nhìn thấy ngôi nhà đã khóa cửa ngoài không người trông giữ nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. H liền cho xe quay trở lại, để xe đạp tại thửa đất trống bên hông phải của căn nhà hướng từ ngoài nhìn vào rồi đi ra phía sau, khi tiến gần sát phía sau căn nhà, H chui qua khe hở vách tường bên hông phải bằng T1 để đột nhập vào phòng bếp. Sau đó, từ phòng bếp, H chui qua khe hở bên dưới của cánh cửa sau để đột nhập lên khu vực phòng ngủ. Tại phòng ngủ thứ nhất theo hướng từ dưới phòng bếp đi lên, H lục soát tủ quần áo chiếm đoạt được số tài sản gồm: Tiền Ngân hàng N1 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng) (01 tờ 500.000đ và 19 tờ 200.000đ), 01 sợi dây chuyền vàng, 01 chiếc nhẫn trơn bằng vàng, 01 chiếc nhẫn kiểu bằng vàng, 01 đôi bông tai bằng vàng, 01 chiếc lắc bằng vàng trắng (vàng được bỏ vào trong 02 hộp nhựa màu đỏ) của Đặng Thanh T là chủ sở hữu. Tại phòng ngủ thứ hai theo hướng từ dưới phòng bếp đi lên, H lục soát tủ quần áo chiếm đoạt được số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) (Tiền mệnh giá 100.000đ) do Nguyễn Thị D, mẹ ruột của T là chủ sở hữu. Sau đó, H bỏ số tài sản chiếm đoạt được vào túi nylon màu đỏ rồi tẩu thoát ra ngoài theo hướng vào để lấy xe đạp tiếp tục đi bán vé số.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, H đem số vàng trộm cắp được về nhà tại ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tại tủ quần áo. Đến sáng ngày 23/11/2023, H đến tiệm V tại địa chỉ sạp 27-28-31 chợ T2 thuộc ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh do Tô Thị Ngọc D1 là chủ sở hữu để bán số vàng do trộm cắp mà có bao gồm: 01 chiếc nhẫn kiểu vàng 24K; 01 nhẫn trơn vàng 18K và 01 đôi bông tai vàng 24K được tổng số tiền 18.300.000đ (Mười tám triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền do trộm cắp được và số tiền bán vàng do trộm cắp mà có, H tiêu xài cá nhân còn lại 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Riêng còn 01 sợi dây chuyền vàng 18K và 01 chiếc lắc bằng bạc Hà chưa bán cất để ở nhà.
Sau khi phát hiện ra sự việc, anh T đã làm đơn trình báo gửi công an xã T.
Vật chứng vụ án:
- - 01 sợi dây chuyền vàng 18K, 01 chiếc lắc bằng bạc (Trả lại cho Chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 39 ngày 01/01/2024 và số 652B ngày 21/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C);
- - 01 xe đạp nhãn hiệu Martin 107 màu trắng (đã qua sử dụng);
- - 01 nón lá (đã qua sử dụng);
- - 01 áo khoác dài tay màu xanh (đã qua sử dụng);
- - 01 áo thun màu xanh (đã qua sử dụng);
- - 01 quần thun màu xanh có hoa văn (đã qua sử dụng);
- - 01 đôi dép màu vàng (đã qua sử dụng);
- - 01 túi nylon màu đỏ (đã qua sử dụng);
- - 02 hộp nhựa màu đỏ dùng để đựng vàng (đã qua sử dụng);
- - Tiền Ngân hàng N1: 2.000.000đ (Hai triệu đồng) (Số tiền được nhập kho vật chứng thuộc tài khoản tạm giữ Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 193/LNK-CSĐT-CSHS ngày 22/02/2024).
(Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C).
- - 01 USB chứa 02 đoạn Video nội dung sự việc.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền mà bị cáo đã trộm cắp 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng) và giá trị vàng tương đương tiền là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng); bà D1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền mà bị cáo đã trộm cắp 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKS-CC ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị can Nguyễn Thị Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiêm sát nhân dân nhận định bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H với mức án từ 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (B) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 18K, 01 chiếc lắc bằng bạc đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 39 ngày 01/01/2024 và số 652B ngày 21/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét.
- - 01 xe đạp nhãn hiệu Martin 107, màu trắng (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
- - Đề nghị tịch thu và tiêu hủy:
- + 01 nón lá (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 áo khoác dài tay màu xanh (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 áo thun màu xanh (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 quần thun màu xanh có hoa văn (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 đôi dép màu vàng (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 túi nylon màu đỏ (đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng;
- + 02 hộp nhựa màu đỏ dùng để đựng vàng (đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng.
(Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C).
- - Tiền Ngân hàng N1: 2.000.000đ (Hai triệu đồng) (Số tiền được nhập kho vật chứng thuộc tài khoản tạm giữ Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 193/LNK-CSĐT-CSHS ngày 22/02/2024) là tiền bị cáo trộm của anh T còn dư lại nên đề nghị trả lại cho anh T.
- - Đối với 01 USB chứa 02 đoạn Video nội dung sự việc tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.
- - Đề nghị ghi nhận bị cáo H đồng ý bồi thường cho anh T số tiền 32.300.000đ (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng) và bồi thường cho bà D1 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng).
Đối với Tô Thị Ngọc D1, là chủ tiệm V, D1 không xác định được có mua vàng của bị cáo H vào ngày 23/11/2023 nên không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên không đê nghị xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Do cần có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, tại số nhà B đường H, Tổ A, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo lợi dụng trong nhà không có người trông coi tài sản đã lén lút lấy trộm tiền, dây chuyền vàng, nhẫn vàng, bông tai, lắc bạc tổng trị giá 39.766.000đ (Ba mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) do Đặng Thanh T là chủ sở hữu và 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) do Nguyễn Thị D là chủ sở hữu rồi tẩu thoát. Sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo.
- [3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng khác thu thập được có trong hô sơ vụ án.
- [4] Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 nhẫn 07 màu vuông vàng 24K, trọng lượng 2,08 chỉ; 01 đôi bông tai vàng 24K, trọng lượng 0,993 chỉ; 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 0,844 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 2,82 chỉ; tổng trị giá làm tròn: 34.866.000đ (Ba mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). (Bút lục 114-115) Tại biên bản Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 23/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 chiếc lắc bạc bằng kim loại màu trắng trị giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng). (Bút lục 252-253). Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo H đã trộm cắp của anh T và bà D là 40.666.000đ (Bốn mươi triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
- [5] Xét thấy, vào năm 2019, bị cáo H bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt H 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 198/2019/HSST ngày 22/11/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năn 2017 trường hợp đương nhiên được xóa án tích là 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/01/2022 nên tính đến ngày 20/11/2023 thì chưa được xóa án tích. Tại Bản án số 198/2019/HSST ngày 22/11/2019 đã áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng do đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thuộc trường hợp được coi là tái phạm nguy hiểm, đủ cơ sở áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
- [6] Đối với Tô Thị Ngọc D1 là chủ tiệm V, D1 không xác định được có mua vàng của bị cáo H vào ngày 23/11/2023 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên không đề nghị xem xét; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này là phù hợp.
- [7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
- [8]. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo H một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Đối với 01 sợi dây chuyền vàng 18K, 01 chiếc lắc bằng bạc đã trả lại cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 39 ngày 01/01/2024 và số 652B ngày 21/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Xét thấy phù hợp nên không xem xét.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe đạp nhãn hiệu Martin 107, màu trắng (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- - Đề nghị tịch thu và tiêu hủy:
- + 01 nón lá (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 áo khoác dài tay màu xanh (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 áo thun màu xanh (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 quần thun màu xanh có hoa văn (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 đôi dép màu vàng (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo không xin nhận lại và không có giá trị sử dụng;
- + 01 túi nylon màu đỏ (đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng;
- + 02 hộp nhựa màu đỏ dùng để đựng vàng (đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng.
Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 173/LNK-ĐCSHS ngày 19/02/2024, Phiếu nhập kho vật chứng số: 50/PNK ngày 29/02/2024. (Bút lục 247-248)
- - Trả lại cho anh T số tiền Ngân hàng N1: 2.000.000đ (Hai triệu đồng) (Số tiền được nhập kho vật chứng thuộc tài khoản tạm giữ Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 193/LNK-CSĐT-CSHS ngày 22/02/2024) là tiền bị cáo trộm của anh T còn dư lại. (Bút lục 219)
- - Đối với 01 USB chứa 02 đoạn Video nội dung sự việc tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.
- [9] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo H đồng ý bồi thường cho anh T số tiền 32.300.000đ (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng) và bồi thường cho bà D1 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng).
- [10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và án phí dân sự sơ thâm là 1.660.000đ (Một triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- [1] Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 29/11/2023.
- [2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe đạp nhãn hiệu Martin 107, màu trắng (đã qua sử dụng).
- - Tịch thu và tiêu hủy:
- + 01 nón lá (đã qua sử dụng);
- + 01 áo khoác dài tay màu xanh (đã qua sử dụng);
- + 01 áo thun màu xanh (đã qua sử dụng);
- + 01 quần thun màu xanh có hoa văn (đã qua sử dụng);
- + 01 đôi dép màu vàng (đã qua sử dụng);
- + 01 túi nylon màu đỏ (đã qua sử dụng);
- + 02 hộp nhựa màu đỏ dùng để đựng vàng (đã qua sử dụng);
(Vật chứng được nhập kho tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 173/LNK-ĐCSHS ngày 19/02/2024, Phiếu nhập kho vật chứng số: 50/PNK ngày 29/02/2024).
- - Trả lại cho anh T số tiền Ngân hàng N1: 2.000.000đ (Hai triệu đồng) (Số tiền được nhập kho vật chứng thuộc tài khoản tạm giữ Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 193/LNK-CSĐT-CSHS ngày 22/02/2024).
- - Tiếp tục tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 USB chứa 02 đoạn Video nội dung sự việc.
- [3] Về trách nhiệm dân sự :
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H có trách nhiệm bồi thường cho anh Đặng Thanh T số tiền 32.300.000đ (Ba mươi hai triệu ba trăm nghìn đồng) và bồi thường cho bà Nguyễn Thị D số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày anh T, bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Nguyễn Thị Ngọc H chậm giao tiền thì Nguyễn Thị Ngọc H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.660.000đ (Một triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Túy Phượng |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạ bị cáo 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
