Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HS-ST

Ngày: 25-8-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Tuấn Tú.
  2. Ông Hoàng Xuân Tỵ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/TLST- HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 05/02/1990; tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; nghề nghiệp: Thợ điện tử; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; có vợ: Huỳnh Thị Kim A; con: Có 04 con, (con riêng lớn nhất sinh năm 2015), 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/4/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 06 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo bản án số 27/2014/HSST. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3 từ ngày 21/02/2023 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Trần Đình S, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/1995; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A L, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Đình T1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị P, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

- Tiền án:

  • + Ngày 05/4/2012 bị Tòa án nhân dân Tp. Bảo Lộc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 22/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/8/2012, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 06/3/2013 bị Tòa án nhân dân Tp. Bảo Lộc xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 11/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/10/2013, chưa được xóa án tích..
  • + Ngày 25/9/2014 bị Tòa án nhân dân Tp. Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 92/2014/HSST, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 29/12/2017 bị Tòa án nhân dân Tp. Bảo Lộc xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Tổng hợp hình phạt chung là 66 tháng tù theo Bản án số 115/2017/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/12/2022, chưa được xóa án tích.

- Nhân thân: Ngày 31/10/2011 bị Ủy ban nhân dân T4 ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3 từ ngày 20/02/2023 cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Đặng Thùy L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04/7/2003; tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: sinh viên; con ông Đặng Văn C, sinh năm 1966 và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1972; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T3 từ ngày 20/02/2023 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, Đội CSĐTP về ma tuý Công an thành phố T3 phối hợp với Công an phường L, thành phố B tiến hành kiểm tra phòng số 204, nhà nghỉ S1; địa chỉ: Số A P, phường L, thành phố B do Trần Đình S và Đặng Thùy L thuê để ở, do nghi vấn trong phòng này có đối tượng đang tàng trữ trái phép chất ma tuý thì phát hiện Trần Đình S và Đặng Thùy L đang ngồi trên giường. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên mặt giường nệm ở ngay cạnh vị trí S và L đang ngồi có 01 gói nilon màu trắng có rãnh khép kín, kích thước 04 x 07 cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý; tại vị trí trên mặt bàn gỗ cạnh đầu giường cách vị trí S ngồi 50 cm, cách vị trí L đang ngồi 70 cm phát hiện 01 gói nylon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh kích thước 02 x 03 cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma tuý và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng bạc không gắn sim đã bị hỏng, có bọc ốp lưng bằng nhựa màu trắng trong, ở trong ốp lưng điện thoại phát hiện 01 gói nylon màu trắng, có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu xanh kích thước 02 x 2,2 cm chứa chất tinh thể rắn màu trắng

2

nghi là ma tuý; ở dưới mặt nền phòng ngay sát chân trái của S phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 ống thuỷ tinh màu trắng. Theo khai nhận của S và L thì 01 gói nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng trên giường nệm và 01 gói nylon chứa chất tinh thể rắn trên mặt bàn đều là ma tuý đá do S và L mua về để sử dụng. Còn gói nylon chứa tinh thể rắn trong ốp điện thoại di động Iphone 6 Plus là của riêng S cất giữ để sử dụng. Do đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S và L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đồng thời thu giữ niêm phong số ma túy nói trên. Ngoài ra, còn thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng bạc không gắn sim đã bị hỏng, có bọc ốp nhựa màu trắng trong.

Qua trình điều tra: S và L khai nhận mua ma túy từ Nguyễn Văn T. Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 21/03/2023 Đội CSĐTTP về ma túy Công an thành phố T3 phối hợp với Công an phường L, thành phố B tiến hành kiểm tra căn nhà của Nguyễn Văn T, ở tại tổ A phường L, Tp . do nghi vấn trong nhà này có đối tượng đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có Nguyễn Văn T. Tổ công tác đã vận động, thuyết phục Nguyễn Văn T có đồ vật gì vi phạm pháp luật thì giao nộp. Sau khi được vận động, Nguyễn Văn T đã vào trong phòng ngủ thứ nhất theo hướng từ trước ra sau nhà và lấy ra từ khay châm nước của quạt hơi nước ở góc bên phải theo hướng từ ngoài vào giao nộp cho tổ công tác 01 ống nhựa màu trắng dài 14,5 cm, đường kính 3,5 cm có nắp đậy bên trong đựng 09 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín, kích thước 01 x 03 cm ống chưa chất tinh thể rắn màu trắng; 02 đoạn ống nhựa màu đen hàn kín, kích thước 01 x 3,5cm ống chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 03 gói nylon màu trắng có rãnh khép kín, vạch kẻ ngang màu đỏ, kích thước 04 x 7,5 cm/gói chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Theo khai nhận của Nguyễn Văn T thì chất tinh thể rắn trong 11 đoạn ống nhựa màu đen và 03 gói nylon trên là ma tuý đá được T cất giấu trong quạt hơi nước để nhằm mục đích bán cho người khác để thu lợi nhuận. Do đó, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, đồng thời thu giữ niêm phong 11 đoạn ống nhựa màu đen chứa chất tinh thể rắn và 03 gói nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng nói trên; thu giữ 01 ống nhựa màu trắng dài 14,5 cm, đường kính 3,5 cm có nắp đậy. Số ma túy này T mua của 01 đối tượng (không xác định được nhân thân, lai lịch) vào ngày 18/02/2023 tại khu vực cầu B, quận B, Tp . với mục đích mang về để bán. Đến khoảng 17 giờ 30 chiều ngày 19/02/2023, Trần Đình S và Đặng Thùy L đến nhà T hỏi mua ma túy thì T dẫn S và L vào trong nhà. S hỏi mua 01 hộp 10 ma túy thì T báo giá là 7,5 triệu đồng. Lúc này, trong tài khoản của L chỉ còn 7,2 triệu đồng nên T đã bớt cho L và S 300.000 đồng. Sau khi thỏa thuận giá cả xong thì L dùng điện thoại Iphone 8 Plus của L chuyển khoản qua ứng dụng momo cho T số tiền 7,2 triệu đồng, T giao cho S hộp 10 ma tuý đá và 01 gói ny lon màu trắng kích thước khoảng 04 x 07 cm chứa ma tuý đá dạng tinh thể rắn màu trắng. Sau khi mua ma tuý xong, S chở L về nhà nghỉ S1, ở địa chỉ số A đường P, phường L, thành phố B để thuê phòng số 204 sử dụng ma túy, L là người đứng tên thuê phòng. Đến tối ngày 19/02/2023, cả hai lấy một ít ma tuý mua được của T ra sử dụng, phần còn lại được để ở trên bàn trong phòng số 204. Đến khoảng 17 giờ 00 phút chiều ngày 20/02/2023, L lấy gói ma tuý mua được của T chia một ít ma tuý sang 01 gói ny lon khác nhỏ hơn có kích thước

3

khoảng 02 x 03 cm và để 02 gói ma tuý trên bàn rồi ngồi trên giường nệm nói chuyện với S. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thành phố T3 đến kiểm tra phòng nghỉ số 204 phát hiện lập biên bản thu giữ vật chứng và tiếp đó khám xét nơi ở đối với Nguyễn Văn T như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 207/KL- KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 03 gói nylon và mười một đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 13,9939g loại Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,9124g loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể (M2) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2950g, loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể (M3) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1805g, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Như vậy, Nguyễn Văn T đã tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 13,9939g, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác để thu lợi bất chính. Ngoài ra, T còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 2,2074g ma túy, loại M đã bán cho Trần Đình SĐặng Thùy L. Trần Đình SĐặng Thùy L tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 2,2074g, loại Methamphetamine. Trần Đình S tàng trữ trái phép riêng khối lượng ma túy 2,3879g, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bản Cáo trạng số 101/CT-VKSBL, ngày 29 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự và bị cáo Đặng Thùy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Trần Đình S và bị cáo Đặng Thùy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
  • - Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 17, 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 năm đến 09 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 17, 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 năm đến 07 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.

4

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Thùy L từ 24 tháng đến 30 tháng năm tù. Miễn hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an T3 đã thu giữ tài sản gồm:

  • - 02 phong bì niêm phong số 201/2023-PC09; 02 phong bì niêm phong số 207/2023-PC0901; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu trắng dài 14,5cm. đường kính 3,5cm có nắp đậy. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng bạc không gắn sim đã bị hỏng, có bọc ốp nhựa màu trắng trong. Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng hồng, số sê ri: C39WPQWXJCM1. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - 01 bản chính CMND số 2511366012 tên Đặng Thùy L do Công an tỉnh lâm Đồng cấp ngày 20/01/2021. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo L không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo L.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  • + Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không có tranh luận, đối đáp với Kiểm sát viên.
  • + Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Đình SĐặng Thùy L đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận

5

điều tra; nội dung Kết luận giám định; biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 21/02/2023 tại tổ A, phường L, Tp ., Nguyễn Văn T đã tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 16,2013g, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán trái phép cho người khác để thu lợi bất chính và đã bán trái phép được 2,2074g ma túy loại Methamphetamine cho Đặng Thùy LTrần Đình S (là người có 04 tiền án, chưa được xóa án tích, đã bị xác định là tái phạm nguy hiểm). Sau khi mua được số ma túy 2,2074g, loại Methamphetamine thì SL đã mang đến phòng số 204, nhà nghỉ S1; địa chỉ số A P, phường L, Tp . tàng trữ trái phép để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an T3 đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, S còn tàng trữ trái phép 0,1805g ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng riêng cho bản thân. Như vậy, Trần Đình S tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng là 2,3879g

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất mà túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại i khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất và mức độ của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể là chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ và mua bán chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật, cũng như nhằm mục đích thoả mãn cho nhu cầu của bản thân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Các bị cáo TS thực hiện tội phạm rất phạm nghiêm trọng, bị cáo L thực hiện tội phạm nghiêm trọng gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Bị cáo T đã bị kết án ngày 15/4/2014, đã được xóa án tích có thời hạn trên 06 tháng.

Bị cáo S có nhân thân rất xấu.

Bị cáo L có nhân thân tốt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì vậy, cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét, tính chất mức độ của từng bị cáo như sau:

6

Đối với cáo Nguyễn Văn T là người mua ma túy có khối lượng 16,2013g, loại Methamphetamin tàng trữ, mục đích để bán ma túy cho người khác nhằm thu lợi bất chính nên tính chất, mức độ của bị cáo T cao hơn bị cao SL.

Đối với bị cáo Trần Đình S là người có 04 tiền án, chưa được xóa án tích, đã bị xác định là tái phạm nguy hiểm, thực hiện tội phạm tích cực nên tính chất, mức độ của bị cáo thấp hơn bị cáo T và cao hơn bị cáo L.

Đối với bị cáo Đặng Thùy L là người giúp sức cho bị cáo S và là người thực hiện tội phạm tích cực nên tính chất mức, mức độ của bị cáo thấp hơn bị cáo TS.

[8] Căn cứ vào qui định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

[9] Phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

Cơ quan điều tra Công an T3 đã thu giữ tài sản:

  • - 02 phong bì niêm phong số 201/2023-PC09; 02 phong bì niêm phong số 207/2023-PC0901; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu trắng dài 14,5cm. đường kính 3,5cm có nắp đậy. Đây là vật chứng chứng minh tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng bạc không gắn sim đã bị hỏng, có bọc ốp nhựa màu trắng trong. Đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng hồng, số sê ri: C39WPQWXJCM1. Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - 01 bản chính CMND số 2511366012 mang tên Đặng Thùy L do Công an tỉnh L cấp ngày 20/01/2021. Đây là giấy tờ hợp pháp của bị cáo L không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo L.

[11] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng bán ma túy cho T. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an T3 tách ra, tiếp tục xác minh khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng tên C1 có hành vi cho S 01 gói ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an T3 tách ra, tiếp tục xác minh khi có căn cứ thì sẽ xử lý sau.

Đối với anh Trần Mạnh T2 là chủ nhà nghỉ S1, địa chỉ số A đường P, phường L, Tp . có hành vi cho SL thuê phòng để ở, sau đó SL sử dụng ma túy trong phòng. Tại thời điểm cho thuê phòng anh T2 không biết được mục đích sử dụng của

7

SL cũng như không biết việc SL có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Trần Mạnh T2.

[12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[13] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Trần Đình SĐặng Thùy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1.1. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 17, 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/02/2023.

1.2. Áp dụng điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 17, 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Đình S 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2023.

1.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Thùy L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng hồng, số sê ri: C39WPQWXJCM1.
  • - Tịch thu tiêu huỷ gồm: 02 phong bì niêm phong số 201/2023-PC09; 02 phong bì niêm phong số 207/2023-PC0901; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu trắng dài 14,5cm. đường kính 3,5cm có nắp đậy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu trắng bạc không gắn sim đã bị hỏng, có bọc ốp nhựa màu trắng trong.
  • - Trả lại cho bị cáo Đặng Thùy L: 01 bản chính CMND số 2511366012 tên Đặng Thùy L do Công an tỉnh L cấp ngày 20/01/2021 (bản chính).

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/7/2023 giữa cơ quan Công an thành phố T3 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

8

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Đình SĐặng Thùy L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A.DS thành phố Bảo Lộc;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Công

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 102/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tang trư va mua ban ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger