Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/DS-ST

Ngày: 25/7/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Láth

Ông Sơn Khem

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 410/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 318/GUQ-NHNo-VC ngày 25/7/2024) (bà T có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Lưu Văn L; sinh năm: 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị T1; sinh năm: 1965 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Ông Lưu Minh T2; (vắng mặt)
  4. Bà Trương Hồng T3; (vắng mặt)
  5. Bà Lưu Thúy V; sinh năm: 2006 (vắng mặt)
  6. Bà Lưu Thị Ngọc H; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/6/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng và Ông Lưu Văn L1 đã ký kết Hợp đồng thì dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng đã cho ông Lưu Văn L vay số tiền 200.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm; lãi suất 10%/năm; thanh toán trả lãi theo quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 36 tháng.

Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp sau:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VH/92/2016/HĐTC được ký kết ngày 27 tháng 12 năm 2016 giữa Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng và ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511092, có diện tích 12.208 m² (loại đất DRM: 8.276 m2; đất Lúa: 3.932 m2), thửa đất số: 94,81; tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Lưu Văn L ngày 22 tháng 11 năm 2001.

Tính đến hết ngày 25/7/2024, tổng nợ của ông Lưu Văn L tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: 222.752.785 đồng (trong đó nợ gốc: 128.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 63.429.479 đồng, nợ lãi quá hạn 31.323.306 đồng).

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Lưu Văn L thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016, yêu cầu Ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VIV/92/2016/HĐTC được ký kết ngày 27 tháng 12 năm 2016. Tuy nhiên, tính đến nay, Ông Lưu Văn L không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N.

Nay ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền 222.752.785 đồng (trong đó nợ gốc: 128.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 63.429.479 đồng, nợ lãi quá hạn 31.323.306 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016, kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

Trường hợp ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lưu Văn L trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh đúng theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng và đúng theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị T1 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Lưu Văn L, bà là vợ ông L, việc ông L vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông L thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lưu Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 phải trả nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 222.752.785 đồng (trong đó nợ gốc: 128.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 63.429.479 đồng, nợ lãi quá hạn 31.323.306 đồng) và ông ông L, bà T1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Lưu Văn L có địa chỉ tại ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Bị đơn ông Lưu Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1, ông Lưu Minh T2, bà Trương Hồng T3, bà Lưu Thúy V, bà Lưu Thị Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơnvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Lưu Văn L tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông L còn nợ lại tiền nợ gốc là 128.000.000 và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 01/01/2020 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn L thanh toán nợ nhưng ông L không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Lưu Văn L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N yêu cầu bị đơn ông Lưu Văn L phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 01/01/2020 đến ngày xét xử 25/7/2024 số tiền là 222.752.785 đồng (trong đó nợ gốc: 128.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 63.429.479 đồng, nợ lãi quá hạn 31.323.306 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị T1 trình bày, bà là vợ ông Lưu Văn L, việc ông L vay vốn ngân hàng là để phục vụ kinh tế và nhu cầu thiết yếu trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông L thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N yêu cầu bà Trần Thị T1 liên đới cùng ông Lưu Văn L trả tiền nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VH/92/2016/HĐTC ngày 27 tháng 12 năm 2016, dùng tài sản là thửa số 94 và thửa 81 đều thuộc tờ bản đồ số 3, tọa lạc ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ ông Lưu Văn L ngày 22/11/2001 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với 02 thửa đất thế chấp nêu trên thì thửa đất số 94 hiện đang tồn tại 01 căn nhà của ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1, có kết cấu: Nhà trước có mái lợp tôn xi măng, cửa sắt, đòn tay gỗ dầu, vách xây tường 10, cột đúc, nền lót gạch men, có chiều ngang là 5,4m, chiều dài 11m (xây dựng năm 2002); nhà sau có mái lợp tôn xi măng, cửa gỗ lá sách, đòn tay gỗ dầu, có chiều dài 7,9m, chiều ngang 15m (nhà xây dựng năm 2005); một phần căn chái bên hông nhà trước có mái lợp lá, nền tráng xi măng, cột ống nhựa, không có vách, chiều ngang 2,75m, chiều dài 11,3m (xây dựng năm 2023). Riêng thửa đất số 81 hiện không có tài sản gì trên đất. Toàn bộ 02 thừa đất nêu trên do hộ ông Lưu Văn L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và vợ chồng ông L đang quản lý, sử dụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các thành viên trong hộ ông Lưu Văn L và người đang quản lý, sử dụng đất gồm bà Trần Thị T1, ông Lưu Minh T2, bà Trương Hồng T3, bà Lưu Thúy V, bà Lưu Thị Ngọc H cũng không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông L thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VIV/92/2016/HĐTC được ký kết ngày 27 tháng 12 năm 2016 giữa ngân hàng với bị đơn ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp, trong đó có nêu rõ tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Lưu Văn L và và bà Trần Thị T1 phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Lưu Văn L.

    Buộc ông Lưu Văn L liên đới cùng bà Trần Thị Thu thanh t cho Ngân hàng N số tiền 222.752.785 đồng (trong đó nợ gốc: 128.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 63.429.479 đồng, nợ lãi quá hạn 31.323.306 đồng). Ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201601636 ngày 27 tháng 12 năm 2016 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể: Thửa đất số 94 (mục đích sử dụng: ĐRM), diện tích 8.276m² và tài sản trên thửa đất 94 gồm: Một căn nhà của ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1, có kết cấu: Nhà trước có mái lợp tôn xi măng, cửa sắt, đòn tay gỗ dầu, vách xây tường 10, cột đúc, nền lót gạch men, có chiều ngang là 5,4m, chiều dài 11m (xây dựng năm 2002); nhà sau có mái lợp tôn xi măng, cửa gỗ lá sách, đòn tay gỗ dầu, có chiều dài 7,9m, chiều ngang 15m (nhà xây dựng năm 2005); một phần căn chái bên hông nhà trước có mái lợp lá, nền tráng xi măng, cột ống nhựa, không có vách, chiều ngang 2,75m, chiều dài 11,3m (xây dựng năm 2023); thửa 81 (mục đích sử dụng: Lúa), diện tích 3.932m² đều thuộc tờ bản đồ số 3 tọa lạc ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511092 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) cấp cho hộ ông Lưu Văn L ngày 22/11/2001 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/VIV/92/2016/HĐTC được ký kết ngày 27 tháng 12 năm 2016.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

    3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

    • Bị đơn ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 liên đới chịu 11.137.639 đồng.
    • Nguyên đơn ngân hàng N và P triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N và P triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.002.587 đồng theo biên lai thu số 0000333 ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

    3.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 phải liên đới chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Lưu Văn L và bà Trần Thị T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 750.000 đồng.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tinh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 102/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger