Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày 24 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Ngân, Trần Thị Ánh Hằng.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G (Giàu mù), sinh năm 1990, tại M, Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: không nơi cư trú nhất định; chỗ ở: tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Phạm Ngọc T, sinh 1965; có vợ là Phạm Thị Cẩm H và có 01 con sinh năm 2020; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai;

Nhân thân:

Ngày 19/8/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 31-12-2010, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Ngày 28/11/2011, bị Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là thành phố C) xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”; đến ngày 30-8-2017, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xoá án tích.

Ngày 09/10/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm; đến ngày 08-6-2021, chấp hành xong, đã được xóa tiền sự.

Ngày 06/8/2024, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên ra Bản án số 51/2024/HS-ST xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 12 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/02/2024. Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã có hiệu lực pháp luật.

Tiền án: Ngày 24-01-2022, Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên (nay là thị xã T) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; đến ngày 27-3-2023, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 đến nay, có mặt.

Bị hại:

  1. Nguyễn Thị Ngọc G1, sinh 1989; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  2. Lê Kim P, sinh 1974; nơi cư trú: tổ G, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
  3. Em Nguyễn Phước L, sinh 2011; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp cho em L: Bà Nguyễn Thị Bảo C, sinh 1996; ; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho em Nguyễn Phước L: Bà Trần Thị Cẩm S, sinh 1984, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A, có mặt.

Người có quyền, lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Quốc V, sinh 2000; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện đã bị kết án và chấp hành án theo Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã có hiệu lực pháp luật, vắng mặt.
  2. Nguyễn Văn Đ1, sinh 2009; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Hiện đã bị kết án và chấp hành án theo Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã có hiệu lực pháp luật, vắng mặt.
  3. Phạm Hữu H1, sinh 2003; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Ngô Thị C1, sinh 1967, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 16 giờ ngày 27/02/2024, Nguyễn Văn G điều khiển xe mô tô biển số 67K1-621.13 đến nhà của Nguyễn Quốc V (cháu vợ của G, ngụ khóm V, phường N, thành phố C) để mượn xe mô tô với mục đích đi cướp giật tài sản, nhưng G nói dối là đi chùa B, thuộc phường T, thị xã T để lấy tiền. V đồng ý đưa xe cho G. Tại đây, G gặp Nguyễn Văn Đ1 (sinh ngày 04/6/2009) nên rủ Đ1 đi cùng chơi, Đại đồng ý. Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đen nhám (của V) chở G về hướng thành phố C đi thị xã T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đến khu vực tổ G, ấp M, xã V, thành phố C, G phát hiện chị Lê Kim P đứng trước tiệm tạp hóa của bà Ngô Thị C1, Đ1 điều khiển xe lại gần chỗ chị P đứng, G giả vờ hỏi chỗ đổ xăng, chị P trả lời rồi bước vào trong tiệm thì G liền nhảy xuống xe chạy đến giật sợi dây chuyền của chị P đang đeo trên cổ, chị P dùng tay giữ lại nên G chỉ giật được mặt dây chuyền rồi nhanh chóng lên xe mô tô do Đ1 điều khiển chờ sẵn chạy về hướng xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, G cất giấu mặt dây chuyền trong túi áo. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đổi xe với V, Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 67K1-621.13 chở G đến khu vực Kênh H, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, G thấy chị Nguyễn Thị L1 đang nằm võng trên cổ có đeo sợi dây chuyền nên kêu Đ1 ngừng xe lại, G xuống xe giả vờ hỏi đường rồi dùng tay giật sợi dây chuyền của chị L1 nhưng không được, chị L1 truy hô, cùng mọi người bắt giữ Đ1 và xe mô tô bàn giao cho Công an Công an huyện C, xử lý.

Riêng, G bỏ chạy và bơi qua Kênh Đào, khi bơi G lấy 01 cây dao (loại dao bấm) trong túi quần ra cầm trên tay. Khi vào đến bờ thuộc tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, G đi lên đường và trên tay cầm 01 cây dao thì gặp em Nguyễn Phước L (sinh ngày 15/11/2011) điều khiển xe đạp điện dựng trước nhà thuộc tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, G cầm dao đi đến đe dọa L lấy xe đạp điện của L điều khiển chạy được một đoạn do mệt nên G dừng lại bỏ xe đạp điện và tiếp tục cầm dao trên tay đi bộ vào nhà của chị Nguyễn Thị Ngọc G1 (cư trú cùng địa chỉ với L) đe dọa, chị G1 sợ không dám phản kháng nên G1 lấy xe mô tô biển số 67B1-478.20 của chị G1 điều khiển chạy đi. Trong lúc bỏ chạy G1 điều khiển xe tự té ngã làm mất cây dao và biển số xe mô tô biển số 67B1-478.20. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, G1 điều khiển xe mô tô biển số 67B1-478.20 đến nhà Phạm Hữu H1 gửi và nhờ H1 đưa G1 về nhà. Sau khi sự việc xảy ra P, L, G1 đến Công an xã V trình báo. Ngày 08/5/2024, Nguyễn Văn G bị khởi tố để điều tra.

Lời khai các bị hại Lê Kim P, Nguyễn Phước L, Nguyễn Thị Ngọc G1; người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Quốc V, Nguyễn Văn Đ1, Ngô Thị C1, Phạm Hữu H1 trình bày phù hợp nội dung vụ án. Qua sự việc, P, L, G1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm, yêu cầu xử lý theo luật định; H1 không biết là tài sản Nguyễn Văn G gửi do phạm tội mà có.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKSTB-HS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố; do bị cáo do cần tiền tiêu xài nên chiếm đoạt tài sản của người khác như nội dung cáo trạng truy tố.

Các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn G, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn G từ 09 đến 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 01 đến 02 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều tội của nhiều Bản án đối với bị cáo G.

Về trách nhiệm dân sự, các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng, các tài sản đã trao trả cho các bị hại, nên không giải quyết.

Trợ giúp viên pháp lý Trần Thị Cẩm S1, là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại L đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo G về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự, thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị hại quá trình điều tra không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn G.

Bị cáo Nguyễn Văn G không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, quá trình điều tra đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, sự vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án, nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn G2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo G đã có các hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao cướp tài sản của em Nguyễn Phước L (sinh ngày 15/11/2011) 01 xe đạp điện, của chị Nguyễn Thị Ngọc G1 (cư trú cùng địa chỉ với L) 01 xe mô tô biển số 67B1-478.20; bị cáo cùng với Đ1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Lê Kim P sợi dây chuyền màu vàng, (do chị P nắm giữ lại được nên G1 chỉ giật được mặt dây chuyền), cướp giật của chị Nguyễn Thị L1 sợi dây chuyền nhưng không được, chị L1 truy hô, cùng mọi người bắt giữ Đ1 và xe mô tô. Các hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn G đã phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và khoản 1 Điều 171 có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm tù của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn G có nhân thân rất xấu, rất nhiều lần bị xét xử về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, còn tiền án chưa xóa án tích. Hành vi của bị cáo G thực hiện với lỗi cố ý; sử dụng con dao là hung khí nguy hiểm, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để tấn công bị hại, song song đó, còn sử dụng phương tiện xe mô tô cướp giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát, mục đích nhằm chiếm đoạt được tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24-01-2022, Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã T), tỉnh An Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giạt tài sản”, đến ngày 27-3-2023, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo G phải chịu tình tiết tái phạm và phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Do hành vi phạm tội của bị cáo G thực hiện ngày 27/02/2024 cùng thời gian thực hiện hành vi phạm tội theo nhận định tại Bản án số 51/2024 ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã tuyên xử có hiệu lực pháp luật, cho nên, cần tổng hợp hình phạt của bản án đã xét xử với bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của nhiều bản án đã tuyên theo Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, xuất thân thành phần nhân dân lao động, học vấn thấp, nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Xét thấy bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, do dó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Các tài sản bị chiếm đoạt, cơ quan điều tra Công an thành phố C đã xử lý trao trả lại cho các bị hại là phù hợp pháp luật.

[7] Bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Quyền kháng cáo

Bị cáo, các bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật Tố tụng Hình sự.

[9] Đối với Nguyễn Văn Giàu c hành vi cướp giật tài sản của chị Nguyễn Thị L1 tại huyện C, đã được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án khác. Đối tượng Nguyễn Văn Đ1 (sinh ngày 04/6/2009) có hành vi cùng Nguyễn Văn G cướp giật tài sản của chị Lê Kim P nhưng thời điểm phạm tội Đ1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi cướp giật tài sản của chị L1 tại huyện C, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã xét xử (do Cơ quan điều tra Công an huyện C chuyển vụ án theo thẩm quyền), tại Bản án số 51/2024/HS-ST tuyên xử Nguyễn Văn Đ1 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 2 tội là 05 năm 06 tháng tù. Bản án đã có hiệu lực pháp luật, Đ1 đã chấp hành án.

Riêng Phạm Hữu H2 nhận giữ xe mô tô 67B1-478.20 do Giàu gửi, nhưng H1 không biết xe mô tô do G phạm tội mà có và Nguyễn Quốc V cho G mượn xe mô tô, nhưng không biết G dùng làm phương tiện để cướp giật tài sản người khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H1, V là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn G (Giàu M) 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo G chấp hành là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã có hiệu lực pháp luật, buộc bị cáo Nguyễn Văn G chấp hành hình phạt chung hai Bản án của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc và Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/02/2024.
  2. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Châu Đốc;
  • - Công an thành phố Châu Đốc;
  • - CQTHAHS Công an Tp. Châu Đốc;
  • - Nhà tạm giữ - Công an Tp. Châu Đốc;
  • - Chi cục THADS Tp.Châu Đốc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (cướp tài sản và cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản và Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn G (Giàu M) 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo G chấp hành là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên đã có hiệu lực pháp luật, buộc bị cáo Nguyễn Văn G chấp hành hình phạt chung hai Bản án của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc và Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/02/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger