|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 102/2024/HS-ST
Ngày: 24-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Tám
Ông Nguyễn Duy Thảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Như Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28 tháng 9 năm 1997 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 58 Đ, phường T, quận H, Tp Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Như T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1975; có vợ là Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 23/11/2017 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/7/2021. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024. Có mặt.
- Bị hại:
- Chị Lê Thị Mỹ D1, sinh năm 1981, trú tại: K L, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Chị Dương Thị Bắc P, sinh năm 1998, trú tại: C P, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1999, trú tại: E Đ, phường T, quận H, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
- Anh Nguyễn Triều T1, sinh năm 2003. trú tại: E Đ, phường T, quận H, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17h30' ngày 08/12/2023, Nguyễn Như Q sử dụng xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS: 43C2-049.95 mượn của anh Nguyễn Triều T1 (em ruột Nguyễn Như Q) đi lòng vòng trên trên tuyến đường P, quận T, thành phố Đà Nẵng tìm tài sản trộm cắp, khi Q đi ngang qua cửa hàng S, địa chỉ C P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, phát hiện phía trước cửa hàng không có người trông coi nên nảy sinh ý định đột nhập vào cửa hàng để tìm tài san lấy trộm. Lúc này, Q lén lút đẩy cửa đi vào bên trong cửa hàng thì thấy có người đang làm việc nhưng không phát hiện đến sự có mặt của Q. Do đó, Q đi lại gần khu vực bàn tiếp khách của cửa hàng thì phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen của chị Dương Thị Bắc P và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng của chị Lê Thị Mỹ D1 để trên bàn lễ tân nên Q lấy 02 điện thoại trên cho vào túi quần bên trái của mình rồi sau đó đi ra khỏi cửa hàng và lên xe rời đi. Lúc này, phía bên nhà trong của cửa hàng chị Dương Thị Bắc P là chủ của S1 đang gội đầu cho chị Lê Thị Mỹ D1 nghe có tiếng động lạ nên chạy ra xem thì phát hiện có bóng người thanh niên từ trong cửa hàng đi ra ngoài, nghi ngờ bị kẻ gian lấy trộm tài sản, chị P kiểm tra tài sản bên trong cửa hàng phát hiện điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen của mình và điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu trắng của chị D1 đã bị mất; khi chị P kiểm tra lại dữ liệu camera tại quán thì phát hiện “một người thanh niên cao khoảng 1m7, đeo khẩu trang, mang kính, đội mũ bảo hiểm hiệu POC màu trắng, mặc áo khoác màu đen trắng, quần và dép màu đen, điều khiển xe HondaAirblade đã trộm cắp 02 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus”; sau đó P đến Công an phường T, quận T, Tp Đà Nẵng trình báo, đồng thời giao nộp đoạn video ghi lại toàn bộ sự việc trên.
Nguyễn Như Q sau khi lấy được tài sản, đã đem 02 điện thoại nêu trên đến cửa hàng sửa chữa điện thoại di động trên đường Đ và Dũng Sĩ T, thành phố Đà Nẵng (không xác định) để chạy lại phần mềm sau đó đem về cất giấu ở chậu cây cảnh trước nhà của Q tại E Đ, thành phố Đà Nẵng. Đến sáng ngày 09/12/2023 chị Trần Thị Mỹ D là vợ của Q phát hiện số tài sản trên thì hỏi Q về nguồn gốc của của 02 chiếc điện thoại. Lúc này, Q thừa nhận với chị D 02 chiếc điện thoại trên Q lấy trộm tại cửa hàng S, địa chỉ C P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đến 13h00' ngày 09/12/2023, chị D đem 02 chiếc điện thoại Iphone 7 plus đến cửa hàng S gặp chị Dương Thị Bắc P thừa nhận việc chồng mình là Nguyễn Như Q đã trộm 02 chiếc điện thoại nêu trên đồng thời trả lại các tài sản trên cho chị P. Chị P sau khi nhận được tài sản đã liên hệ và trả lại cho chị Lê Thị Mỹ D1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của chị D1.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 22/3/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T xác định 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus có giá trị là : 4.200.000 (Bốn triệu hai trăm nghìn) đồng trong đó: 01 Điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32GB có giá trị: 1.500.000 đồng và 01 Điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu bạc, dung lượng 128GB có giá trị: 2.700.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Như Q trộm cắp là 4.200.000 đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Như Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.
* Nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Vì muốn có tiền tiêu xài, Nguyễn Như Q đã lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
* Vật chứng:
- - 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 Plus màu bạc dung lượng 128G của chị Lê Thị Mỹ D1.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 Plus màu đen dung lượng 32G của chị Dương Thị Bắc P.
Ngày 23/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 582/QĐ-ĐCSHS trả lại các tài sản trên cho chị Lê Thị Mỹ D1 và Dương Thị Bắc P.
- 01 (một) đĩa DVD bên trong có 02 đoạn camera ghi nhận lại nội dung vụ việc trộm cắp tài sản tại C P, thành phố Đà Nẵng được quy trữ trong hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Dương Thị Bắc P, Lê Thị Mỹ D1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 80/CT- VKS ngày 17 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Như Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; điểm h, s, r khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như Q từ 12 đến 18 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Như Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Như Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại cửa hàng S (C P, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng) Nguyễn Như Q đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, dung lượng 32 GB có giá trị 1.500.000 đồng của chị Dương Thị Bắc P và 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu bạc, dung lượng 128 GB có giá trị 2.700.000 đồng của chị Lê Thị Mỹ D2. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 4.200.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm ngàn đồng).
Do đó hành vi của Nguyễn Như Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 80/CT- VKS ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo có tính chất ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 02 chiếc điện thoại di động. Bị cáo nhân thân xấu: Ngày 23/11/2017 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/7/2021. Sau khi bị cáo Q thực hiện hành vi phạm tội và bị gia đình phát hiện, vợ bị cáo là chị Trần Thị Mỹ D đã chủ động trả lại tài sản trộm cắp cho các bị hại.
Vậy, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh, mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 Plus màu bạc dung lượng 128G của chị Lê Thị Mỹ D1 và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 Plus màu đen dung lượng 32G của chị Dương Thị Bắc P. Ngày 23/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 582/QĐ-ĐCSHS trả lại các tài sản trên cho chị Lê Thị Mỹ D1 và Dương Thị Bắc P, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
- - Đối với 01 (một) đĩa DVD bên trong có 02 đoạn camera ghi nhận lại nội dung vụ việc trộm cắp tài sản tại C P, thành phố Đà Nẵng, đây là vật chứng vụ án cần tiếp tục quy trữ trong hồ sơ vụ án.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Dương Thị Bắc P, Lê Thị Mỹ D1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[7] Đối với chị Trần Thị Mỹ D (vợ bị cáo Q) không biết việc bị cáo Q trộm cắp tài sản, sau khi phát hiện tài sản do Q trộm cắp thì đã đem trả lại ngay cho các chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Triều T1 (là em ruột bị cáo Nguyễn Như Q) cho bị cáo Q mượn xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xanh đen, BKS 43C2-049.95 để sử dụng, không biết việc bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đà Nẵng không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Như Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 25/4/2024.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Như Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Hưng |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
