|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/DS-PT Ngày 24 tháng 4 năm 2024 V/v tranh chấp chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng ;
Ông Hoàng Ngọc Linh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 78/2024/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Ông Lê Văn C, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt;
2. Bị đơn:
Ông Lê Văn T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.
Đại diện hợp pháp của bị đơn Lê Văn T1: ông Lôi Phương H, sinh năm 2000; địa chỉ: C, C, Khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, theo giấy ủy quyền ngày 04/3/2024, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1983; cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;
Đại diện hợp pháp của bà Lê Thị H1: Ông Lê Văn C, sinh năm 1961; địa chỉ cư trú: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy ủy quyền ngày 29/6/2023, có mặt;
- Chị Lê Thị Bảo D, sinh năm 1995, vắng mặt;
- Chị Lê Thị Mỹ G, sinh năm 2000, vắng mặt;
Cùng địa chỉ cư trú: Tổ I, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;
- Bà Lê Thị Y, sinh năm 1966; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng, vắng mặt;
4. Người kháng cáo:
Ông Lê Văn T1, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, do ông Lôi Phương H đại diện theo ủy quyền, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Đồng nguyên đơn ông Lê Văn C, bà Lê Thị T trình bày: Nguyên cha mẹ tên Lê Văn C1, sinh năm 1929 (chết năm 1988) và Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1933 (chết năm 2015). Lúc sinh thời ông, bà chung sống có được 06 người con tên: Bà Lê Thị P, sinh năm 1957 (chết năm 2016), ông Lê Văn T2, sinh năm 1959 (chết 2012), Lê Văn C (là nguyên đơn), sinh năm 1961, bà Lê Thị T, sinh năm 1963, ông Lê Văn T1, sinh năm 1969, ông Lê Văn N, sinh năm 1972 (chết 2010). Bà P có chồng tên Hồ Văn H2 (chết năm 2013) không có con, ông T2 có vợ tên Đỗ Thị Ự chết năm 2014, có con tên Lê Thị H1, ông N có vợ tên Lê Thị Y và 02 người con tên Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G.
Cụ C1 và cụ Đ có để lại di sản là căn nhà phủ thờ ngang khoảng 6m, dài 14m, kết cấu nhà lót gạch, vách tường, lợp ngói trên nền đất của ông, bà để lại, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra còn có 02 thửa đất nông nghiệp. Thửa đất thứ nhất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 cấp ngày 30/6/2011 cho bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15 có tổng diện tích là 2.769 m²; thửa đất thứ hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 cấp ngày 06/12/2011 cho bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 8, thửa số 189 có tổng diện tích là 2.354 m².
Lúc cụ Đ còn sống có cho ông Lê Văn T1 thuê hai thửa đất nói trên canh tác trên 10 năm, đến năm 2015 cụ Nguyễn Thị Đ chết thì ông Lê Văn T1 tự ý chiếm hai thửa đất quản lý canh tác cho đến nay không để cho ai canh tác và chiếm lấy đất sử dụng làm của riêng mình không nghĩ gì đến quyền lợi của anh, chị, em ruột trong gia đình. Đến thời gian khoảng tháng 01 năm 2022, ông Lê Văn T1 còn tự ý xây nền móng gạch, cuốn nền để xây dựng nhà xưởng cơ sở sửa xe trên diện tích đất: 2.769 m² (đất lúa) cặp đường lộ mới sau (từ phường L, thị xã T xuống phường L) diện tích là 43.40m² phần đất cuốn nền móng gạch, chiều ngang 10m; chiều dài 43m. Các đồng nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Chia di sản thừa kế theo pháp luật của hai thửa đất trên thành 06 (sáu) phần bằng nhau, con cụ C1, cụ Đ mỗi người được hưởng 01 phần.
Ngày 07/7/2023 đồng nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung nội dung yêu cầu: Chia di sản thừa kế theo pháp luật của 02 (hai) khu đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 cấp ngày 30/6/2011 do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15, diện tích là 2.769 m² và khu đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 cấp ngày 06/12/2011 do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 8, thửa số 189, diện tích là 2.354 m² thành 05 phần bằng nhau (bằng hiện vật là quyền sử dụng đất) cho 05 người gồm: Lê Văn C, Lê Thị T, Lê Văn C2, Lê Văn T2 (chết con là Lê Thị H1) hưởng, Lê Văn N (chết con Lê Thị Bảo D, Lê Thị Mỹ G vợ Lê Thị Y) hưởng. Đất này cha mẹ chưa chia và cũng không để lại di chúc. Đối với căn nhà phủ thờ không yêu cầu chia.
Bị đơn ông Lê Văn T1 trình bày:
Thừa nhận cha mẹ tên Lê Văn C1, sinh năm 1929 (chết năm 1988) và Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1933 (chết năm 2015). Lúc sinh thời ông, bà chung sống có được 06 người con như nguyên đơn trình bày. Cha mẹ có tạo lập được 5.123 m² đất nông nghiệp, cha mẹ chết đất này chưa chia và cũng không di chúc để lại cho ai cả. Đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật của 02 diện tích đất do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên (như nguyên đơn trình bày) thành 08 phần bằng nhau, bằng hiện vật là quyền sử dụng đất cho 08 người gồm: Lê Văn C, Lê Thị T, Lê Văn T1, Lê Văn T2 (chết con là Lê Thị H1) hưởng, Lê Văn N (chết con Lê Thị Bảo D, Lê Thị Mỹ G vợ Lê Thị Y) hưởng, Lê Thị P, Lê Văn C1 và bà Nguyễn Thị Đ. Ông T1 xin nhận phần của bà P, cụ C1 và cụ Đ với lý do ông T1 là người thờ cúng và lo giỗ cho các người đã chết.
Ông Lê Văn C, bà Lê Thị T, ông Lê Văn T1 thừa nhận và thống nhất với nhau: về cây trồng trên đất và phần xây bó nền do ông T1 trồng và xây dựng, khi chia cây trên đất và bó nền nếu lọt vào phần hưởng của người nào thì người đó được hưởng (không có tranh chấp), nếu không hưởng thì có quyền tự chặt bỏ, tại thửa tạm 06 trong bản trích do vẽ sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023 có các điểm mia 11,22,21,12 có diện tích 32 m², thuộc thửa 15, tờ bản đồ 26, đất này từ trước đến nay do người khác quản lý sử dụng, thống nhất không yêu cầu giải quyết. Trước đây cụ Đ có bán hơn 04 công đất ở huyện P (là tài sản bên ngoại mà bà Đ được hưởng) được gần 11 (mười một) lượng vàng 24k, bà Đ chia đều cho các con mỗi người 01 lượng, phần còn lại cụ Đ dưỡng già và dùng vào việc thuốc men tuổi già nên không cần đến con trong việc bỏ tiền ra nuôi dưỡng và trị bệnh cho mẹ khi bà đau ốm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T1 đề nghị Tòa án chia 02 (hai) thửa đất trên thành 06 phần bằng nhau, trong đó ông T1 xin nhận 02 phần, 01 phần ông hưởng thừa kế, 01 phần ông nhận để thờ cúng cha mẹ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị H1 do ông C là đại diện theo ủy quyền trình bày: thống nhất ý kiến ông C.
- Bà Lê Thị Y, chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ G thống nhất hàng thừa kế cũng như di sản của cụ C1 và cụ Đ để lại như ý kiến trình bày của ông C, bà T và ông T1. Thống nhất chia di sản thừa kế thành 08 phần bằng nhau. Trong đó phần của ông N thì bà Y, chị D và chị G hưởng; ông T1 hưởng 04 phần gồm: phần của ông T1, phần của cụ C1, cụ Đ và bà P. Ông C, bà T và ông T2 mỗi người một phần.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C và bà Lê Thị T.
- Hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn C1 và bà Nguyễn Thị Đ gồm ông Lê Văn C, bà Lê Thị T, ông Lê Văn T1. Những người thừa kế thế vị của ông Lê Văn T2 gồm Lê Thị H1; ông Lê Văn N gồm Lê Thị Mỹ G và Lê Thị Bảo D.
- Công nhận di sản của cụ Nguyễn Thị Đ để lại quyền sử dụng đất số CH00486 cấp ngày 30/6/2011 do Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15 có tổng diện tích 2.737 m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 cấp ngày 06/12/2011 do Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 8, thửa số 189 có tổng diện tích là 2.354 m².
- Chia theo pháp luật di sản của cụ Nguyễn Thị Đ:
Thửa đất thứ nhất, giấy chứng nhận quyền sử dụng số CH00486 cấp ngày 30/6/2011 cho bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15 có tổng diện tích 2.737 m² chia cho 05 người, mỗi người được 547,4 m². Ông Lê Văn T1 được hưởng thửa tạm 01 có các điểm mia 1,2,3,4,18,19,20; ông Lê Văn C hưởng thửa tạm 02 có các điểm mia 4,5,6,17,18; chị Lê Thị H1 hưởng thửa tạm 03 có các điểm mia 6,7,15,16,17; bà Lê Thị T hưởng thửa tạm 04 có các điểm mia 7,8,9,13,14,15; chị Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G hưởng chung thửa tạm 05 có các điểm mia 9,10,11,12,13, theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023. Đất tọa lạc tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Thửa đất thứ hai: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 cấp ngày 06/12/2011 do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 8, thửa số 189 có tổng diện tích là 2.354 m² chia cho 05 người, mỗi người được 470,8m². Chị Lê Thị H1 hưởng thửa tạm 01 các điểm mia 5,6,7,8,9,10; ông Lê Văn C hưởng thửa tạm 02 các điểm mia 4,5,10,11; bà Lê Thị T hưởng thửa tạm 03 các điểm mia 3,4,11,12; ông Lê Văn T1 hưởng thửa tạm 04 các điểm mia 2,3,12,13; chị Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G hưởng chung thửa tạm 05 các điểm mia 1,2,13,14,15, theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023. Đất tọa lạc tại khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Tạm giao cho các đương sự quản lý, sử dụng. Các đương sự được phân chia di sản trên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C, bà Lê Thị T: yêu cầu chia 32m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 cấp ngày 30/6/2011 do bà Nguyễn Thị Đ đứng tên, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15.
Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị T, ông Lê Văn T1, chị Lê Thị H1 là người thừa kế thế vị của ông T2, chị Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G là người thừa kế thế vị của ông N mỗi kỷ phần có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông Lê Văn C số tiền 4.453.000 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn C, bà Lê Thị T người cao tuổi được miễn. Ông Lê Văn T1, chị Lê Thị H1, chị Lê Thị Mỹ G và chị Lê Thị Bảo D mỗi kỷ phần phải chịu 5.255.000 (năm triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn) đồng.
Bà Lê Thị T được hoàn lại tiền tạm ứng án phí 1.725.000 (một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo phiếu thu số 0007220 ngày 09/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân châu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ trả lãi do chậm thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 15/10/2023, bị đơn ông Lê Văn T1 kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chia diện tích đất là di sản thừa kế làm 06 phần, ông T1 được hưởng 02 phần, còn lại 04 phần chia cho các thừa kế khác.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn ông C, bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông T1 (do ông Lôi Phương H đại diện) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 về việc trích chia thêm cho ông T1 công sức đóng góp, giữ gìn, bảo quản di sản bằng 01 kỷ phần thừa kế.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn T1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia thêm cho ông T1 01 kỷ phần thừa kế do ông T1 có công sức đóng góp, giữ gìn di sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Lê Văn T1 kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Y, Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Y, chị Bảo D và Mỹ G.
Về xác định tên, năm sinh của bị đơn: Tại cấp sơ thẩm, trong đơn khởi kiện của nguyên đơn và các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đều ghi tên bị đơn là ông Lê Văn C2, sinh năm 1967. Tuy nhiên theo căn cước công dân xác định bị đơn tên là Lê Văn T1, sinh năm 1969 và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lê Văn C, bà Lê Thị T đều xác định bị đơn tên Lê Văn C2, sinh năm 1967 (ghi trong đơn khởi kiện) là ông Lê Văn T1, sinh năm 1969 tham gia tố tụng trong vụ án là cùng một người.
Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị đơn trong vụ án là ông Lê Văn T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
[2] Về nội dung:
Cụ Lê Văn C1 (chết năm 1988) và cụ Nguyễn Thị Đ (chết năm 2015) có tất cả 06 người con gồm:
- Lê Thị P (chết năm 2016) có chồng là Hồ Văn H2 (chết năm 2013) không có con.
- Lê Văn T2 (chết năm 2012), có vợ là Đỗ Thị Ự (chết năm 2014), có con là Lê Thị Lệ H3.
- Lê Văn C;
- Lê Thị T;
- Lê Văn T1;
- Lê Văn N (chết năm 2010) có vợ là Lê Thị Y và 02 con là Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G.
Các đương sự đều thống nhất những người thuộc hàng thừa kế của cụ C1 và cụ Đ như đã nêu trên.
Về di sản thừa kế có tranh chấp là 02 diện tích đất nông nghiệp có nguồn gốc của cụ C1 và cụ Đ để lại. Cụ C1 chết năm 1988, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đến năm 2011, cụ Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các đương sự thống nhất phân chia di sản thừa kế là 02 diện tích đất nông nghiệp do cụ Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- Diện tích 2.769 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 cấp ngày 30/6/2011, thuộc tờ bản đồ số 26, thửa số 15. Qua đo đạc thực tế còn lại diện tích 2.737 m². Diện tích giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 32m² do người khác quản lý, sử dụng, thống nhất không yêu cầu tranh chấp, phân chia đối với diện tích 32m².
- Diện tích là 2.354 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 cấp ngày 06/12/2011, thuộc tờ bản đồ số 8, thửa số 189.
Trên diện tích đất 2.737 m², ông T1 có xây dựng tường rào, bồn nước, bồn cầu và trồng cây cà na, chuối. Tại cấp sơ thẩm, các đương sự thống nhất phân chia bằng hiện vật đối với đất nông nghiệp, không tranh chấp về vật kiến trúc và cây trồng trên đất, ai được phân chia vị trí đất nào có vật kiến trúc hoặc cây trồng trên đất thì người đó được sử dụng hoặc tự phá bỏ.
[2.1] Về những người được hưởng di sản và phân chia di sản:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ Đ là 02 diện tích đất nông nghiệp do cụ Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phân chia bằng hiện vật cho những người thừa kế. Do bà Lê Thị P thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Đ chết trước cụ Đ và chồng bà P là ông H2 cũng chết, không có con chung nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định những người được hưởng di sản gồm có: Ông Lê Văn C; bà Lê Thị T; ông Lê Văn T1; bà Lê Thị H3 (hưởng thừa kế thế vị ông Lê Văn T2 do chết trước cụ Đ); Lê Thị Bảo D và Lê Thị Mỹ G (hưởng thừa kế thế vị của ông Lê Văn N do chết trước cụ Đ) là có căn cứ.
Xét kháng cáo của ông Lê Văn T1 về việc yêu cầu chia công sức đóng góp trong việc giữ gìn, bảo quản di sản và công sức nuôi dưỡng chăm sóc người để lại di sản là cụ Đ để lại, thấy rằng.
Tại cấp sơ thẩm, ông T1 không yêu cầu xem xét công sức đóng góp vào việc giữ gìn, bảo quản di sản mà chỉ yêu cầu được nhận thêm phần di sản bà P được hưởng. Ngoài ra, ông T1 trình bày có công sức nuôi dưỡng mẹ là cụ Đ khi còn sống cho đến khi qua đời và có cung cấp những người làm chứng gồm Lê Văn Đ1, Châu Văn B, Châu Văn H4, Đỗ Phú T3, Trần Thị K, La Thị Thu H5. Tuy nhiên, những người làm chứng chỉ xác định vợ ông C1 sống chung với N (Tèo), ông T1 có nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ nhưng không biết thời gian nào. Điều này phù hợp với lời khai của các đương sự gồm ông C, bà T, ông T1 tại biên bản đối chất ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu thể hiện “cha, mẹ còn sống thì do ông Lê Văn N nuôi, đến năm 2010 ông N chết, ông C2 nhà gần bên nên ông C2 có chăm sóc mẹ đến năm 2015 thì mẹ chết, ngoài ra ông C cũng có chăm sóc mẹ khi bị bệnh. Về tiền điều trị bệnh là do bà Đ tự bỏ ra, khi đó bà Đ có tiền và vàng”. Như vậy, ông T1 có công sức trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc cho cụ Đ khi còn sống.
Đối với công sức giữ gìn, bảo quản, cải tạo đất theo trình bày của ông T1, ông đã trực tiếp sử dụng đất từ khoảng năm 2000, đến khi cụ Đ mất vào năm 2015 thì ông vẫn tiếp tục sử dụng, canh tác. Thu nhập có được sử dụng vào việc phục vụ đời sống gia đình ông T1 và thờ cúng cha mẹ. Mặc dù, ông T1 cũng được hưởng lợi từ việc sử dụng đất nhưng ông T1 cũng có công sức trong việc giữ gìn, bảo quản, cải tạo đất. Khi phân chia di sản, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đến công sức đóng góp của ông T1 là chưa đảm bảo quyền lợi cho ông T1.
Do đó, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 về việc trích chia công sức đóng góp của ông Trung trong khối di sản và được tính bằng 1 suất thừa kế.
[2.2] Về phương thức phân chia:
Các đương sự thống nhất chia di sản bằng hiện vật, tuy nhiên, đối với diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Đ nếu trích chia công sức đóng góp của ông T1 bằng hiện vật tương đương 01 suất thừa kế theo mỗi diện tích đất của cụ Đ thì các thừa kế còn lại không đủ diện tích tối thiểu để được tách thửa. Do đó, xét trích chia công sức đóng góp cho ông T1 bằng giá trị tương đương với diện tích đất (01 suất thừa kế). Những người nhận thừa kế bằng hiện vật nhiều hơn 01 suất thừa kế phải hoàn trả lại giá trị diện tích đất chênh lệch cho ông T1.
- Đối với diện tích đất 2.737 m²: chia làm 6 phần; mỗi suất thừa kế bằng 456,16m².
Ông T1 được chia 01 suất thừa kế và được trích chia công sức đóng góp bằng 01 suất thừa kế. Tổng cộng ông T1 được hưởng 02 suất (01 suất bằng hiện vật 456,16 m² và 01 suất bằng giá trị đất tương đương: 34.212.000 đồng). Ông T1 được sử dụng diện tích đất 547,4 m² (thửa tạm 01 có các điểm 1,2,3,4,18,19,20) và được nhận giá trị diện tích đất 364,92 m² từ các thừa kế khác.
Các chi còn lại gồm: Ông C; bà T; bà H3; chị D và chị G mỗi chi được chia một suất thừa kế (456,16m²) tương đương giá trị 34.212.750 đồng. Mỗi chi được sử dụng diện tích đất 547,4 m²:
- Ông C được sử dụng thửa tạm 02, có các điểm 4,5,6,17,18;
- Bà H3 được sử dụng thửa tạm 03 có các điểm 6,7,15,16,17;
- Bà T được sử dụng thửa tạm 04 có các điểm 7,8,9,13,14,15;
- Chị Bảo D và M được sử dụng thửa tạm 05 có các điểm 9,10,11,12,13;
Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023.
Ông C, bà T, bà H3, chị D và chị G mỗi chi có trách nhiệm hoàn lại cho ông T1 giá trị diện tích đất chênh lệch bằng 6.842.250 đồng, tính tròn là 6.842.000 đồng (1).
- Đối với diện tích đất 2.354 m²: chia làm 6 phần; mỗi suất thừa kế là 392,33m².
Ông T1 được chia 01 suất thừa kế và được trích chia công sức đóng góp bằng 01 suất thừa kế. Tổng cộng ông T1 được hưởng 02 suất (01 suất bằng hiện vật 392,33 m² và 01 suất bằng giá trị đất tương đương: 52.964.550 đồng). Ông T1 được sử dụng diện tích đất 470,8 m² (thửa tạm tạm 04 có các điểm 2,3,12,13) và được nhận giá trị diện tích đất 313.86 m² từ các thừa kế khác.
Các chi còn lại gồm: Ông C; bà T; bà H3; chị D và chị G mỗi chi được chia một suất thừa kế (392,33 m²) tương đương giá trị 52.964.550 đồng. Mỗi chi được sử dụng diện tích đất 470,8 m²:
- Bà H3 được sử dụng thửa tạm 01 có các điểm 5,6,7,8,9,10;
- Ông C được sử dụng thửa tạm 02 có các điểm 4,5,10,11;
- Bà T được sử dụng thửa tạm 03 có các điểm 3,4,11,12;
- Chị D và G được sử dụng thửa tạm 05 có các điểm 1,2,13,14,15;
Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023.
Ông C, bà T, bà H3, chị D và chị G mỗi chi có trách nhiệm hoàn lại cho ông T1 giá trị diện tích đất chênh lệch bằng 10.593.450 đồng, tính tròn là 10.593.000 đồng (2).
Tổng cộng (1) + (2), mỗi chi: ông C, bà T, bà H3, chị D và G) phải hoàn lại giá trị đất chênh lệch cho ông T1 là 17.435.000 đồng.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông T1, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng mỗi chi được hưởng di sản thừa kế phải chịu một phần chi phí tố tụng, ông C đã tạm ứng nộp nên các chi còn lại có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông C.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, các đương sự phải chịu án phí tính theo giá trị di sản được hưởng.
Đối với ông C và bà T là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận ông T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại ông T1 tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn T1; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 76/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn C và bà Lê Thị T.
1. Công nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị Đ là: diện tích 2.769m² (đo đạc thực tế còn lại là 2.737m²), thửa số 15, tờ bản đồ số 26, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 30/6/2011 mang tên Nguyễn Thị Đ và diện tích đất 2.354 m², thửa số 189, tờ bản đồ số 8, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 06/12/2011 mang tên Nguyễn Thị Đ.
2. Những người được hưởng di sản thừa kế gồm: ông Lê Văn C; bà Lê Thị T; ông Lê Văn T1; bà Lê Thị H3 (thừa kế thế vị của ông Lê Văn T2); chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ G (thừa kế thế vị của ông Lê Văn N), mỗi chi được hưởng 01 suất thừa kế và trích chia cho ông Lê Văn T1 công sức đóng góp, giữ gìn bảo quản di sản bằng một suất thừa kế.
- Đối với diện tích đất 2.737m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00486 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 30/6/2011, thể hiện qua Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023:
- Ông Lê Văn T1 được quyền sử dụng diện tích đất 547,4m² thuộc thửa tạm 01 (qua các điểm 1,2,3,4,18,19,20);
- Ông Lê Văn C được quyền sử dụng diện tích đất 547,4m² thuộc thửa tạm 02 (qua các điểm 4,5,6,17,18);
- Bà Lê Thị H3 được quyền sử dụng diện tích đất 547,4m² thuộc thửa tạm 03 (qua các điểm 6,7,15,16,17);
- Bà Lê Thị T được quyền sử dụng diện tích đất 547,4m² thuộc thửa tạm 04 (qua các điểm 7,8,9,13,14,15);
- Chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ G được quyền sử dụng diện tích đất 547,4m² thuộc thửa tạm 05 (qua các điểm 9,10,11,12,13);
Đối với diện tích đất 2.354 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07806 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 06/12/2011, thể hiện qua Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh T4 đo vẽ ngày 05/9/2023:
- Ông Lê Văn T1 được quyền sử dụng diện tích đất 470,8 m², thuộc thửa tạm 4 (qua các điểm 2,3,12,13);
- Bà Lê Thị H3 được quyền sử dụng diện tích đất 470,8 m² thuộc thửa tạm 01 (qua các điểm 5,6,7,8,9,10);
- Ông Lê Văn C được quyền sử dụng diện tích đất 470,8 m² thuộc thửa tạm 02 (qua các điểm 4,5,10,11);
- Bà Lê Thị T được quyền sử dụng diện tích đất 470,8 m² thuộc thửa tạm 03 (qua các điểm 3,4,11,12);
- Chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ G được quyền sử dụng diện tích đất 470,8 m² thuộc thửa tạm 05 (qua các điểm 1,2,13,14,15);
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước thẩm quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Ông Lê Văn C có trách nhiệm hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T1 là 17.435.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- Bà Lê Thị T có trách nhiệm hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T1 là 17.435.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- Bà Lê Thị H3 có trách nhiệm hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T1 là 17.435.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
- Chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ Giàu c trách nhiệm hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn T1 là 17.435.000 đồng (mười bảy triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
3. Về chi phí tố tụng:
- Bà Lê Thị T có trách nhiệm hoàn lại cho ông Lê Văn C 4.453.000 đồng (bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng);
- Ông Lê Văn T1 có trách nhiệm hoàn lại cho ông Lê Văn C 4.453.000 đồng (bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng);
- Bà Lê Thị H3 có trách nhiệm hoàn lại cho ông Lê Văn C 4.453.000 đồng (bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng) ;
- Chị Lê Thị Bảo D và chị Lê Thị Mỹ Giàu c trách nhiệm hoàn lại cho ông Lê Văn C 4.453.000 đồng (bốn triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn C, bà Lê Thị T được miễn án phí.
- Ông Lê Văn T1 phải chịu 8.716.000 đồng
- Bà Lê Thị H3 phải chịu 4.358.000 đồng.
- Chị Lê Thị Mỹ G và chị Lê Thị Bảo D phải chịu 4.358.000 đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Văn T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho ông T1 tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0007597 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 102/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 102/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
