Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/DS-PT

Ngày: 18/7/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu;

Ông Hoàng Văn Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 146/2023/TLPT - DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị bà Nguyễn Thị N kháng cáo toàn bộ bản án.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 36/2024/DS-PT ngày 24 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1 (S).

Địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, Thành Phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (S).

Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình K- chức vụ: Phó Tổng giám đốc ngân hàng TMCP Đ1.

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Hải V- Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ ngân hàng TMCP Đ1, theo văn bản ủy quyền số 13200/2021/UQ-SeABank ngày 23/8/2021, (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1980, (có mặt)

HKTT: Tổ dân phố D, phường Đ, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: Tổ A, phường T, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Chí T1, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Tổ A, phường T, Thành phố T, Thái Nguyên. (xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Hải V, chuyên viên xử lý nợ ngân hàng TMCP Đ1 trình bày:

Ngày 26/3/2018 ngân hàng S có ký hợp đồng tín dụng từng lần với bà Nguyễn Thị N, để bà N vay với số tiền là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), mục đích vay sửa chữa nhà để ở, thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 26/3/2018 đến ngày 26/3/2024, lãi suất vay 10%/1 năm cố định trong 6 tháng đầu, lãi suất các tháng tiếp theo bằng lãi suất VNĐ kỳ hạn 14 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân (KHCN) + biên độ 4,1%/1 năm. Thực hiện theo hợp đồng tín dụng S đã giải ngân bà N nhận nợ. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2724 tờ bản đồ số 10 diện tích 100m². Địa chỉ xã Đ, thị xã P, (nay là phường Đ, Thành phố P) tỉnh Thái Nguyên theo giấy CNQSD đất số CI 456315, số vào sổ cấp giấy CN CS00159 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 29/6/2017 cho bà Nguyễn Thị N. Tài sản thế chấp cho S theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 14629441.26.03.2018/HĐTC; số công chứng 1189, quyển số: 01-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/3/2018 tại phòng công chứng số A tỉnh Thái Nguyên. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 21/5/2020 bà N đã trả được số tiền là 72.464.610 đồng (Bảy mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn sáu trăm mười đồng); Trong đó trả nợ gốc: 53.139.886 đồng (Năm mươi ba triệu một trăm ba mươi chín nghìn tám trăm tám mươi sáu đồng), đã trả lãi trong hạn là 19.243.531đồng (Mười chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm ba mươi mốt đồng), đã trả lãi quá hạn là 81.193 đồng (Tám mươi mốt nghìn một trăm chín mươi ba đồng). Tính đến ngày 30/8/2023 bà N còn nợ S số tiền gốc 346.860.114 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn một trăm mười bốn đồng), lãi trong hạn 127.296.190 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn một trăm chín mươi đồng), lãi quá hạn 172.325.859 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng). Nay ngân hàng S đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên buộc bà N trả cho S tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 30/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trong trường hợp bà N không thực hiện được nghĩa vụ khoản nợ vay của bà N nêu trên thì ngân hàng S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi khoản nợ.

Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S thì bà N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà không nhất trí trả khoản nợ của ngân hàng S vừa trình bày nêu trên. Lý do bà không trả khoản nợ với ngân hàng S là bà chưa nhận được khoản tiền vay của ngân hàng nên bà không có trách nhiệm phải trả. Về ký kết hợp đồng tín dụng số 14629441.26.03.2018/HĐTD ngày 26/3/2018 là bà thừa nhận có ký từng trang mà hiện nay hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay vốn của ngân hàng S cung cấp cho Tòa án thiếu chữ ký từng trang của bà, trang cuối cùng của hợp đồng chỉ có vân tay của bà còn chữ ký chữ viết không phải của bà. Bà N khẳng định những tài liệu chứng cứ ngân hàng S cung cấp cho Tòa án lưu trong hồ sơ là không phải chữ viết, chữ ký của bà liên quan đến khoản vay với ngân hàng S.

Bà đề nghị làm rõ việc ông Nguyễn Chí T1 có sửa chữa nhà cho bà không, và sửa chữa những gì, vào ngày tháng năm nào. Giữa bà với ông Nguyễn Chí T1 không có mối quan hệ, không quen biết nhau. Bà đề nghị ngân hàng S trả lại số tiền bà đã nộp cho ngân hàng vào thời điểm từ tháng 4/2018 cho đến ngày 21/9/2019 khoảng 120 triệu đồng. Lý do bà nộp tiền vào ngân hàng do anh K1 và anh T2 dọa ép bà không trả nợ thì xuống thu hồi nhà, nên bà sợ mang trả hàng tháng như vậy. Bà không nhất trí với ý kiến trình bày của đại diện ngân hàng vì bà không bao giờ yêu cầu phía ngân hàng giải ngân vào tài khoản của ông Nguyễn Chí T1 vì tài khoản của ông Nguyễn Chí T1 là do ngân hàng S tạo ra, đề nghị ngân hàng phải đưa ra văn bản giấy tờ bà yêu cầu giải ngân vào tài khoản Nguyễn Chí T1, bà không chấp nhận giấy ủy nhiệm chi, giấy nhận nợ của ngân hàng S, đây không phải chữ viết, chữ ký và không có dấu vân tay của bà. Bà N không đề nghị trưng cầu giám định toàn bộ chữ viết chữ ký của bà N liên quan đến giấy ủy nhiệm chi, giấy nhận nợ và hợp đồng sửa chữa nhà.

Đối với chữ viết, chữ ký trong giấy ủy nhiệm chi ngày 27/03/2018 không phải chữ viết, chữ ký của bà, nhưng bà N cũng không đề nghị giám định, tại phiên tòa ngày 21/8/2023 bà N lại đề nghị giám định, sau đó bà N lại rút yêu cầu giám định, đồng thời đề nghị đưa người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ A, phường Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên.

Nay bà N không nhất trí trả nợ cho ngân hàng S tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng). Bà đề nghị ngân hàng S trả lại số tiền bà đã nộp cho ngân hàng vào thời điểm từ tháng 4/2018 cho đến ngày 21/9/2019 khoảng 120 triệu đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chí T1 trình bày:

Về quan hệ ông không có quan hệ anh em họ hàng gì với bà N, ông biết bà N qua ông C1 (ông C1 là bạn bè đến mua ô tô của gia đình ông, vì ông chuyên mua bán ô tô), khoảng tháng 11/2017 ông C1 đi cùng bà N đến đặt vấn đề mua ô tô của gia đình ông, không mua được ô tô, bà N, ông C1 có hỏi vay ông 250.000.000 đồng, ông đồng ý cho bà N vay với điều kiện bà N phải thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông để làm tin, sau khi hai bên trao đổi giao nhận tiền bà N thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị N (ông C1 đứng ra bảo lãnh số tiền vay). Tháng 2/2018 anh C1, bà N lại đặt mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà N đã thế chấp, ông C1 để lại xe ô tô VIOS để làm tin mới lấy được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông C1, bà N làm thủ tục vay ngân hàng để trả số tiền đã vay ông 250.000.000 đồng, với điều kiện ông mở tài khoản tại ngân hàng S để ngân hàng chuyển vào tài khoản của ông với số tiền 400.000.000 đồng (theo giấy ủy nhiệm chỉ) ông đã nhận số tiền 400.000.000 đồng, sau đó ông trừ số tiền bà N vay và số tiền còn lại ông đưa trả lại cho bà N tại ngân hàng, sau khi bà N tất toán số tiền vay của ông, ông C1, bà N lấy lại xe VIOS, ông có ký hợp đồng sửa chữa nhà, nhưng thực tế không có sửa chữa, đây là hợp thức để bà N vay tiền trả cho ông. Nay ông xin vắng mặt tại các phiên hòa giải và các phiên tòa, ông T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2023/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Áp dụng: Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 353, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng TMCP Đ1 (S ) đối với bà Nguyễn Thị N.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng TMCP Đ1 (S) số tiền gốc là 346.860.114 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn một trăm mười bốn đồng), lãi trong hạn 127.296.190 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn một trăm chín mươi đồng), lãi quá hạn 172.325.859 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 30/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trong trường hợp bà N không thực hiện được nghĩa vụ khoản nợ vay của bà N nêu trên thì ngân hàng S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để xử lý thu hồi khoản nợ. Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2724 tờ bản đồ số 10 diện tích 100m2. Địa chỉ xã Đ, thị xã P (N là phường Đ, thành phố P) tỉnh Thái Nguyên theo giấy CNQSD đất số CI 456315, số vào sổ cấp giấy CN CS00159 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 29/6/2017 cho bà Nguyễn Thị N.

Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S thì bà N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.

- Ngày 05/9/2023 bị đơn là bà Nguyễn Thị N kháng cáo toàn bộ bản án số 19/2023/DS-PT ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên;

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/NQ14- UBTVQH30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2023/DS-PT ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Buộc bà N phải thanh toán các khoản lãi tổng cộng: Tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 30/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm sung ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị N trả nợ số tiền cho Ngân hàng S bà N đã vay, do vậy Ngân hàng S là nguyên đơn, bà N là bị đơn. Giao dịch giữa hai bên được lập thành văn bản bằng hợp đồng vay tài sản, có chữ ký xác nhận của hai bên, được thực hiện theo quy định. Xét đây là quan hệ Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự; Bị đơn có địa chỉ tại phường Đ, TP P, tỉnh Thái Nguyên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

- Sau khi tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn và nộp tạm ứng án phí nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy:

[2.1] Ngày 26 tháng 3 năm 2018 ngân hàng TMCP Đ1 (S) có ký hợp đồng tín dụng số 14629441.26.03.2018/HĐTD (BL: 187-190) với bà Nguyễn Thị N, để cho bà N vay với số tiền là 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng mục đích vay sửa chữa nhà để ở, thời hạn vay 72 tháng kể từ ngày 26/3/2018 đến ngày 26/3/2024, lãi suất vay 10%/1 năm cố định trong 6 tháng đầu, lãi suất các tháng tiếp theo bằng lãi suất VNĐ kỳ hạn 14 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân (KHCN) + biên độ 4,1%/1 năm. Thực hiện theo hợp đồng tín dụng S đã giải ngân bà N nhận nợ.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2724 tờ bản đồ số 10 diện tích 100m². Địa chỉ xã Đ, thị xã P (N là phường Đ, thành phố P) tỉnh Thái Nguyên theo giấy CNQSD đất số CI 456315, số vào sổ cấp giấy CN CS00159 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 29/6/2017 cho bà Nguyễn Thị N. Tài sản thế chấp cho ngân hàng S theo hợp đồng thế chấp QSD đất số: 14629441.26.03.2018/HĐTC, số công chứng 1189, quyển số: 01-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/3/2018 tại phòng công chứng số A tỉnh Thái Nguyên (BL: 179-183). Tài sản thế chấp được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất bảo đảm theo đúng quy định pháp luật (BL: 184-185); Tại giấy nhận nợ theo hợp đồng tín dụng với ngân hàng bên vay là bà N đã ký nhận số tiền nợ 400.000.000 đồng (BL: 197-198); Tại giấy ủy nhiệm chi ngày 27/03/2018 chủ tài khoản là bà Nguyễn Thị N đã ủy nhiệm chi cho người nhận tiền là ông Nguyễn Chí T1, có số tài khoản 05700014631436 tại ngân hàng S với số tiền 400.000.000 đồng, nội dung thanh toán tiền sửa chữa (BL: 202). Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 21/5/2020 bà N đã trả được số tiền là 72.464.610 đồng (Bảy mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi tư nghìn sáu trăm mười đồng) trong đó trả nợ gốc: 53.139.886 đồng, lãi trong hạn đã trả 19.243.531 đồng, lãi quá hạn đã trả 81.193 đồng. Đến ngày 30/8/2023 bà N còn nợ ngân hàng S số tiền gốc 346.860.114 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn một trăm mười bốn đồng), lãi trong hạn 127.296.190 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn một trăm chín mươi đồng), lãi quá hạn 172.325.859 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng)

Nay ngân hàng TMCP Đ1 (S) đề nghị bà Nguyễn Thị N trả số tiền cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) tính đến ngày xét xử sơ thẩm. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S thì bà N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ.

[2.2] Đối với đề nghị của bà N Hội đồng xét xử thấy; Quá trình giải quyết vụ án bà N không thừa nhận trả khoản nợ của ngân hàng S. Lý do bà không trả khoản nợ với ngân hàng S là bà chưa nhận được khoản tiền vay của Ngân hàng nên bà không có trách nhiệm phải trả. Về việc ký kết hợp đồng tín dụng số 14629441.26.03.2018/HĐTD ngày 26/3/2018 là bà có ký từng trang của hợp đồng tín dụng, hợp đồng vay vốn của ngân hàng S cung cấp cho Tòa án thiếu chữ ký từng trang của bà, trang cuối cùng của hợp đồng chỉ có vân tay của bà còn chữ ký chữ viết không phải của bà. Bà N khẳng định những tài liệu chứng cứ ngân hàng S cung cấp cho Tòa án lưu trong hồ sơ là không phải chữ viết, chữ ký của bà liên quan đến khoản vay với ngân hàng S.

Nhưng qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã nhận định tại mục [2.1] là có căn cứ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 21/5/2020 bà N đã trả được số tiền là 72.464.610 đồng (Bảy mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi bốn nghìn sáu trăm mười đồng); Trong đó trả nợ gốc: 53.139.886 đồng (Năm mươi ba triệu một trăm ba mươi chín nghìn tám trăm tám mươi sáu đồng), trả lãi trong hạn đã là 19.243.531đồng (Mười chín triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm ba mươi mốt ), trả lãi quá hạn đã 81.193 đồng (Tám mươi mốt nghìn một trăm chín mươi ba đồng). Nay bà N cho rằng số tiền trả bà đã nộp cho Ngân hàng vào thời điểm từ tháng 4/2018 cho đến ngày 21/9/2019 khoảng 120 triệu đồng. Lý do bà nộp tiền vào ngân hàng do anh K1 và anh T2 dọa ép bà không trả nợ thì xuống thu hồi nhà, nên bà N sợ và mang trả hàng tháng như vậy.

Xét quan điểm, ý kiến của bà N là không có căn cứ; Bởi lẽ sau khi vay bà N đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng, nhưng sau đó bà bà N đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiếp theo cho ngân hàng S như đã cam kết, nên bà N đưa ra các lý do trên, nhưng lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, nên không chấp nhận yêu cầu của bà N.

[2.3] Đối với ý kiến bà N cho rằng bà không nhất trí với ý kiến trình bày của đại diện ngân hàng vì bà không bao giờ yêu cầu phía ngân hàng giải ngân vào tài khoản của ông Nguyễn Chí T1, vì tài khoản của ông Nguyễn Chí T1 là do ngân hàng S tạo ra, đề nghị ngân hàng phải đưa ra văn bản giấy tờ bà yêu cầu giải ngân vào tài khoản Nguyễn Chí T1, bà không chấp nhận giấy ủy nhiệm chi, giấy nhận nợ của ngân hàng S, đây không phải chữ viết, chữ ký và không có dấu vân tay của bà. Bà không đề nghị trưng cầu giám định toàn bộ chữ viết, chữ ký của bà liên quan đến giấy ủy nhiệm chi, giấy nhận nợ và hợp đồng sửa chữa nhà.

Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 21/8/2023 bà N đề nghị giám định chữ viết, chữ ký trong giấy ủy nhiệm chi ngày 27/03/2018, Hội đồng xét xử đã phải tạm ngừng phiên tòa, sau đó bà N lại có đơn rút toàn bộ nội dung yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết nêu trên; Tại Tòa án cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử cũng cho bà N xem trực tiếp chữ ký, chữ viết trên giấy ủy nhiệm chi (BL: 202) nêu trên, thì bà N thừa nhận là đúng chữ ký do bà ký và viết ra, không có yêu cầu hay thắc mắc gì, nhưng lại không thừa nhận khoản nợ trên vì cho rằng chưa nhận được khoản tiền vay 400.000.000 đồng là không có căn cứ như đã nhận định tại mục [2.1] nêu trên và là quyền tự định đoạt của cá nhân bà N, do đó bà N phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ pháp lý do không chứng minh được yêu cầu nêu trên của bà là đúng theo quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ để giải quyết chấp nhận yêu cầu này của bà N.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N đề nghị đưa thêm người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1, địa chỉ tổ A, phường Q, TP T và ông Phạm Văn T3 cán bộ ngân hàng S;

Qua xác minh ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1982, số căn cước công dân [...], trước đây có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường Q (nay là tổ A), hiện tại không còn cư trú trên địa bàn tại địa phương, ông C1 đi đâu không rõ (BL: 330 -331). Đối với ông Phạm Văn T3 qua giải trình của đại diện theo ủy quyền của ngân hàng S xác định đã nghỉ việc không còn làm việc tại ngân hàng S, phía ngân hàng không biết nơi làm việc và nơi cư trú của ông T3, tài liệu hồ sơ liên quan vụ án đã cung cấp đầy đủ bản chính cho Tòa án.

Đối với ý kiến của ông T1 cho rằng đến nay ông không liên quan đến khoản vay của bà N, nên ông đề nghị giải quyết vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên xét xử.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/6/2024 bà N đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để tiếp tục cung cấp tài liệu, yêu cầu đề nghị cơ quan điều tra công an giải quyết yêu cầu tố cáo ngân hàng lập hồ sơ giả mạo và vô hiệu, tuy nhiên hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa bà N vẫn không có tài liệu nào khác liên quan giao nộp.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm bà N đã yêu cầu cơ quan điều tra công an thị xã P giải quyết yêu cầu tố cáo ngân hàng lập hồ sơ giả mạo, tuy nhiên tại công văn số 1618/CSĐT ngày 24/11/2020 cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã P (nay là Thành phố P) đã trả lời đơn tố cáo có nội dung: Đơn tố cáo của bà N không có dấu hiệu của tội phạm, giao dịch giữa bà N và ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 chi nhánh T5 trong vụ việc này là giao dịch dân sự (BL: 150).

Xét thấy, việc bà N cho rằng hợp đồng sửa chữa nhà ở theo hợp đồng tín dụng giữa bà N và ngân hàng là giả mạo và vô hiệu, thì bà có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ việc khác. Ngoài ra, xem xét tài liệu này trong hồ sơ tín dụng tại ngân hàng chỉ là điều kiện để ngân hàng xem xét cho bà N vay tiền hay không, trong vụ việc này ngân hàng đã giải quyết cho bà N vay tiền, phía bà N đã nhận nợ, đã ủy nhiệm chi, hợp đồng tín dụng đã được giải ngân, quá trình thực hiện hợp đồng thì bà N đã thanh toán một phần gốc và lãi, sau đó không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do đó ngân hàng yêu cầu giải quyết buộc bà N trả nợ là có căn cứ pháp luật.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, được chấp nhận, nên buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch và bà N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Hoàn trả ngân hàng S 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004649 ngày 04 tháng 3 năm 2020 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phổ Yên.

Về chí phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), ngân hàng S đã nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và đã chi phí hết, nay buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để trả cho ngân hàng S.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 147; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N, giữ nguyên bản án số 19/2023/DS-PT ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Án phí:
  3. Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được chuyển từ biên lai thu tạm ứng số 0001606 ngày 12/9/2023 của chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phổ Yên sang.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 284; Điều 309; khoản 2, 3 và 4 Điều 190; Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192; Điều 148; Điều 184; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 điều 35; Điều 266, 271, 273, 280 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 124; 149; 466; 299; 303 Bộ luật dân sự 2015. Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụngNghị định số 163/2006/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Nghị quyết 326/2016/NQ14- UBTVQH30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Án lệ số 08/2016/AL.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1 (S ) đối với bà Nguyễn Thị N.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 (S) số tiền gốc là 346.860.114 đồng (Ba trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi nghìn một trăm mười bốn đồng), lãi trong hạn 127.296.190 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn một trăm chín mươi đồng), lãi quá hạn 172.325.859 đồng (Một trăm bảy mươi hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đổng). Tổng cộng cả gốc và lãi: 646.482.167 đồng (Sáu trăm bốn mươi sáu triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) và số tiền lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng trên kể từ ngày 30/8/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  3. Trong trường hợp bà N không thực hiện được nghĩa vụ khoản nợ vay của bà N nêu trên thì S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để xử lý thu hồi khoản nợ. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2724 tờ bản đồ số 10 diện tích 100m2. Địa chỉ xã Đ, thị xã P (N là phường Đ, thành phố P) tỉnh Thái Nguyên theo giấy CNQSD đất số CI 456315, số vào sổ cấp giấy CN CS00159 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 29/6/2017 cho bà Nguyễn Thị N.

    Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho S thì bà N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  4. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch là 29.895.286 đồng (Hai mươi chín triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm tám mươi sáu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  5. Hoàn trả Ngân hàng S 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004649 ngày 04 tháng 3 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên.

  6. Về chí phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), Ngân hàng S đã nộp 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) và đã chi phí hết, nay thu của bà Nguyễn Thị N 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để trả cho Ngân hàng S.
  7. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng S có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà N không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hoàng Quý Sửu

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quý My

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - TAND TP Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP Phổ Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quý My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/DS-PT ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 102/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Nga, giữ nguyên bản án số 19/2023/DS-PT ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger