|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 21/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Đỗ Thị Lài
Ông Trần Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 tại Phú Yên; Thường trú: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở: ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: nhân viên kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông không rõ và bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1962); Đã ly hôn chồng là Nguyễn Thành L, có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 23/02/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại: Công ty cổ phần D2
Đại diện theo pháp luật: ông Huỳnh Trung H, chức vụ: Tổng Giám đốc. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1981 + Bà Nguyễn Minh H2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Lô A, Khu công nghiệp N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Vĩnh Đ1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ H, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1959; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thái N, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Huỳnh Cao T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Bùi Tân L1, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn T2, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Ngô Thanh B, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Trần Thanh L2, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Dương Đức D, sinh năm 1987; Địa chỉ: Chung cư S, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1980; Địa chỉ: ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Giang C, sinh năm 1981; Địa chỉ: tổ F, ấp G, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Trương Vĩnh Q, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Đặng Xuân H3, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Đặng Ngọc T4, sinh năm 1967; Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Mai T5, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
* Người làm chứng:
Ông Phạm Ngọc D1, sinh năm 1969; Địa chỉ: 1 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nội dung vụ án và kết quả điều tra:
Công ty cổ phần D2 được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 12/01/2023) có mã số doanh nghiệp 3600692809, địa chỉ: Lô A, KCN N, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Sau đây gọi tắt là Công ty D2). Trong các ngày 18/01/2023 và 03/02/2023, Công ty D2 được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động (đăng ký thay đổi) 02 chi nhánh tại huyện Đ và thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nhiệm vụ sản xuất và cung ứng bê tông thương phẩm (gọi tắt là Trung tâm sản xuất 2) và bổ nhiệm ông Phạm Ngọc D1 làm Giám đốc Trung tâm phụ trách sản xuất, kinh doanh tại 02 chi nhánh.
Ngày 02/6/2021, Công ty D2 ký Hợp đồng lao động số 166/2021/HĐLĐ-DIC.ĐT thời hạn 03 năm với Nguyễn Thị T, chức danh: Nhân viên kinh doanh - phụ trách địa bàn thị xã P và huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo quy định, quy chế công ty, T có nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, lên đơn hàng và thông báo cho ông Phạm Ngọc D1 để chỉ đạo sản xuất và giao hàng đến địa điểm của khách hàng. T là người trực tiếp thu tiền của khách hàng rồi nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản cho ông D1 để chuyển bộ phận kế toán kiểm soát và báo cáo về Công ty D2. Theo quy chế số 01/QCKD-DIC ngày 01/01/2020 của Công ty, ngoài việc được hương lương, T còn được hưởng “hoa hồng” trên tổng doanh số bán hàng, tỷ lệ được tính theo thời hạn khách hàng thanh toán công nợ, cụ thể: dưới 07 ngày được hưởng 10.000 đồng/khối; từ 07 - dưới 30 ngày được hưởng 5.000 đồng/khối; từ 30 - dưới 60 ngày được hưởng 2.000 đồng/khối; các đơn hàng quá hạn 180 ngày chưa thanh toán thì không được hưởng “hoa hồng” và phải báo cáo về bộ phận kế toán để có biện pháp thu hồi công nợ.
Về kế hoạch và tiến độ sản xuất: các nhà máy phải báo cáo cho bộ phận kế hoạch của Công ty D2 qua zalo nhóm của Công ty và được Ban Giám đốc phê duyệt trực tiếp trên nhóm. Trước 10h00' hàng ngày, bộ phận kế toán các nhà máy báo số liệu sản xuất về bộ phận kiểm soát sản xuất của Công ty các nội dung gồm: sản lượng bê tông thương phẩm sản xuất ngày hôm trước, kết quả giao nhận, hao hụt, việc sử dụng nguyên vật liệu trong ngày.
Từ tháng 5/2022 đến tháng 8/2022, T đã tìm kiếm khách hàng và lên 54 đơn hàng với khối lượng 1.002,5 khối bê tông thương phẩm, tổng giá trị 1.149.525.000 đồng, trong đó:
- Đã thu tiền của 12 khách hàng/29 đơn hàng tổng số 364.630.000 đồng nhưng không giao nộp về công ty mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Quá trình điều tra, 11/12 khách hàng xác nhận đã mua bê tông thương phẩm và thanh toán trực tiếp cho T; riêng 01 khách hàng là Nguyễn Giang C (sinh năm 1981, địa chỉ: ấp G, xã P, huyện X) không nhớ việc đặt hàng và thanh toán cho T. (BL 278-293)
- 05 đơn hàng trị giá 113.670.000 đồng bị sự cố xe bơm, không kịp thời giao cho khách nên phải xả bỏ để tránh hư hỏng xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với các khách hàng đặt mua 05 đơn hàng trên, xác nhận xe bơm bị sự cố, không nhận hàng và không thanh toán tiền, phù hợp với lời khai của T. Tuy nhiên, số bê tông này là do Thu nhận cung cấp dịch vu xe bơm nhưng bị sự cố và không thu được tiền nên T phải chịu trách nhiệm bồi thường cho Công ty D2.
- Đối với 20 đơn hàng còn lại: T sử dụng danh nghĩa Công ty V (do T đứng tên đại diện theo pháp luật) mua 04 đơn hàng trị giá 218.670.000 đồng rồi bán cho Công ty TNHH T6 (địa chỉ: đường Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - do ông Nguyễn Vĩnh Đ1 đại diện theo pháp luật) để hưởng chênh lệch 50.000 đồng/khối; 16 đơn hàng còn lại trị giá 452.555.000 đồng, T sử dụng thông tin của những khách hàng cũ để lên đơn hàng nhưng thực tế cũng là cung cấp cho Công ty T6 để hưởng chênh lệch 50.000 đồng/khối. Quá trình điều tra, ông Đ1 xác nhận do Công ty T6 làm ăn thua lỗ nên chưa thanh toán cho T. Do đó T không có khả năng trả lại cho Công ty D2 (BL 273-277).
1.2. Phần dân sự:
Nguyễn Thị T đã bồi thường được 100.000.000 đồng. Công ty yêu cầu T tiếp tục bồi thường 1.049.525.000 đồng còn lại.
1.3. Vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã thu giữ của bị cáo; chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản: 01 (Một) điện thoại di động S 20 Ultra 5G màu hồng, Imei: 354626/22/890120/7, gắn sim số 0902901955 và 0797201180 đã qua sử dụng; chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) Hợp đồng kinh tế số 01XM/2021/HĐKT/VXT ngày 12/7/2021 giữa Công ty TNHH V và Công ty TNHH T6; 39 (Ba mươi chín) trang tài liệu thể hiện Nguyễn Thị T đặt các đơn hàng qua tin nhắn zalo với ông Phạm Ngọc D1.
4. Các vấn đề liên quan:
Đối với ông Phạm Ngọc D1: trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ là Giám đốc Trung tâm sản xuất 2 phụ trách nhà máy bê tông thị xã P và huyện Đ, ông D1 đã thực hiện đúng quy trình từ khi tiếp nhận thông tin đơn hàng đến chỉ đạo bộ phận sản xuất và giao nhận hàng; sau khi giao nhận hàng thành công, ông D1 liên tục đôn đốc, nhắc nhở nhân viên kinh doanh thu hồi công nợ, khi phát hiện sai phạm của T đã báo cáo đến Lãnh đạo Công ty, được Công ty D2 xác định không sai phạm nên không tố giác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) Công an tỉnh xác định hành vi của ông D1 không có dấu hiệu tội phạm là có cơ sở.
2. Tại Cáo trạng số 103/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tham ô tài sản”; đề nghị áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 353, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 07 (Bảy) - 09 (Chín) năm tù; đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật.
4. Tranh luận, đối đáp tại phiên toà:
4.1. Bị cáo Nguyễn Thị T không tranh luận.
4.3. Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận và yêu cầu xem xét phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.
4.4. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Nguyễn Thị T là nhân viên kinh doanh thuộc Trung tâm sản xuất 2 – Công ty cổ phần D2, quá trình thực hiện nhiệm vụ đã lên 54 đơn hàng cung cấp bê tông thương phẩm, trong đó đã thu tiền của 12 khách hàng/29 đơn hàng với tổng số tiền 364.630.000 đồng nhưng không giao nộp về công ty theo quy định tại Quy chế số 01/QCKD-DIC ngày 01/01/2022 trong thời hạn quy định (tối đa 180 ngày), chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận của khách hàng, sử dụng hết vào mục đích cá nhân, khi bị phát hiện thì chỉ trả lại được 100.000.000 đồng, hiện không còn khả năng thanh toán số còn lại.
Đối với 25 đơn hàng còn lại, cũng do T trực tiếp lên đơn và cung cấp bê tông cho khách hàng nhưng bị sự cố xe bơm hư hỏng hoặc do chưa thu hồi công nợ của khách hàng được nên chưa thanh toán cho Công ty, nên không có căn cứ xác định bị cáo chiếm đoạt số tiền này.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tham ô tài sản” theo các điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ uy tín, hoạt động đúng đắn, quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý tổng cộng 364.630.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, nhiều lần chiếm đoạt của bị hại số tiền rất lớn, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Công ty cổ phần D2 yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 1.049.525.000 đồng.
Trong vụ án xác định bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, lừa đảo chiếm đoạt của bị hại 364.630.000 đồng, đã bồi thường 100.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại 264.630.000 đồng.
Các khoản còn lại là giao dịch dân sự, không có yếu tố chiếm đoạt. Công ty cổ phần D2 có quyền yêu cầu bị cáo hoàn trả bằng việc khởi kiện vụ án để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 (Một) điện thoại di động S 20 Ultra 5G màu hồng, Imei: 354626/22/890120/7, gắn sim số 0902901955 và 0797201180 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm.
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) Hợp đồng kinh tế số 01XM/2021/HĐKT/VXT ngày 12/7/2021 giữa Công ty TNHH V và Công ty TNHH T6; 39 (Ba mươi chín) trang tài liệu thể hiện Nguyễn Thị T đặt các đơn hàng qua tin nhắn zalo với ông Phạm Ngọc D1.
[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Áp dụng các điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 07 (Bảy) năm tù, tính từ ngày 23/02/2024.
2. Trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Thị T tiếp tục bồi thường cho Công ty cổ phần D2 264.630.000 đồng (Hai trăm sáu mươi bốn triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 (Một) điện thoại di động S 20 Ultra 5G màu hồng, Imei: 354626/22/890120/7, gắn sim số 0902901955 và 0797201180 đã qua sử dụng; đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 91/BB-CTHADS ngày 21/8/2024.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) Hợp đồng kinh tế số 01XM/2021/HĐKT/VXT ngày 12/7/2021 giữa Công ty TNHH V và Công ty TNHH T6; 39 (Ba mươi chín) trang tài liệu thể hiện Nguyễn Thị T đặt các đơn hàng qua tin nhắn zalo với ông Phạm Ngọc D1.
3. Án phí sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị T nộp 12.431.500 đồng (Mười hai triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 12.231.500 đồng (Mười hai triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
4. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 103/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tham ô tài sản
- Số bản án: 103/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T Tham ô tài sản
