|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Cao
- Ông Nguyễn Ngọc Ấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Phước Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thanh D, sinh năm 1978.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
(Bà D có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 17/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn T xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An vào ngày 08/9/2011. Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 (một) con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 16/7/2011, hiện cháu T1 đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông T không có nợ chung.
Bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Cháu Trần Thị Thanh T1 có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bà Huỳnh Thị Thanh D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thanh D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn T đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà D;
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thanh D và ông Trần Văn Tứ kết H vào năm 2011, có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nay bà D xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông T. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, riêng ông T vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà D. Từ đó, cho thấy ông T cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
[2.2] Về con chung: Bà D và ông T có 01 (một) con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 16/7/2011. Xét thấy, hiện cháu T1 đang sống với bà D, cuộc sống đã ổn định, hơn nữa, nguyện vọng của cháu T1 là muốn sống với mẹ. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu T1 cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định giữa bà và ông T không có nợ chung. Ông T vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thanh D về việc "Ly hôn" với ông Trần Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thanh D được ly hôn với ông Trần Văn T.
- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thanh D và ông Trần Văn T có 01 (một) con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 16/7/2011. Sau khi ly hôn, bà D được nuôi cháu T1. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Buộc bà Huỳnh Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007594 ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ông Trần Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của một bên, cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiên Trang |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn C – Nguyễn Ngọc Ấn Cao Thiên T2
Bản án số 102/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 102/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Thanh D "Ly hôn" Trần Văn T
