|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2025/DS-PT Ngày 24 - 3 - 2025 “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường và bà Nguyễn Thị Hạnh Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Huế - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 390/2024/TLPT-DS ngày 27/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DSST ngày 22/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐXX-PT ngày 22/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43a/2025/QĐ-PT ngày 21/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Ngọc Đinh L - Chức vụ: Trưởng phòng Kế hoạch kinh doanh - Chi nhánh huyện K (có mặt).
Địa chỉ: B N, tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, Đắk Lắk.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Thanh C, sinh năm 1964 (có mặt) - Địa chỉ: H thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H và ông Nguyễn Xuân T: Ông Nguyễn Văn L1 - Luật sư Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: B T, phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1970 (có mặt); anh Nguyễn Công D, sinh năm 1994 (vắng mặt); chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện K, Đắk Lắk.
- Ông Võ Văn D2 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị H1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện K, Đắk Lắk.
- Ông Nguyễn H2, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện K, Đắk Lắk.
- Ông Lê C1, sinh năm 1964 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện K, Đắk Lắk.
- Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1970 (có mặt); anh Nguyễn Công D, sinh năm 1994 (vắng mặt); chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 2000 (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo trình bày của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án thể hiện như sau:
Ngày 25/01/2016 Ngân hàng N Chi nhánh K ký kết hợp đồng tín dụng với bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T, số tiền vay 500.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng kể từ tháng 01/2016, lãi suất 13 % / năm, lãi suất nợ quá hạn 19,5 % / năm. Để đảm bảo cho khoản vay, bà H và ông T đã thế chấp các quyền sử dụng đất (27 thửa đất tại 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), cụ thể:
- Thửa đất số 711, tờ bản đồ số 39, diện tích 10.385,4 m², địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BS 142405 ngày 04/9/2014 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 290, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.459,7 m², địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BS 145473 ngày 04/9/2014 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 680, 708, 709, 710, 730, 731, 732, 733, 752, tờ bản đồ số 39, địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 142404 ngày 04/9/2014 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506 tờ bản đồ số 14; thửa đất số 73, tờ bản đồ số 18, địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BY 665937 ngày 21/01/2016 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 642, tờ bản đồ số 39, diện tích 10.222,3 m², địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BS 145474 ngày 04/9/2014 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 579, 638, 643, 677, 684, 702, 703, 704, tờ bản đồ số 39, địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BS 142403 ngày 04/9/2014 đứng tên ông T, bà H.
- Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 63, địa chỉ xã Y, huyện K, Giấy chứng nhận QSDĐ số BY 665936 ngày 21/01/2016 đứng tên ông T, bà H.
Hợp đồng thế chấp được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chứng thực ngày 22/01/2016 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 25/01/2016.
* Nguyên đơn Ngân hàng N khởi kiện và trình bày: Theo hợp đồng tín dụng, thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 24/01/2019, bà H mới trả lãi được 60.666.667 đồng, còn nợ lại nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi 166.744.292 đồng chưa trả. Ngân hàng đã yêu cầu vợ chồng bà H trả nợ nhưng vợ chồng bà H không thực hiện theo đúng cam kết. Ngày 22/3/2019 Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H và ông T trả nợ gốc và lãi. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 22/8/2024 nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 505.013.888 đồng, lãi quá hạn 203.666.667 đồng.
Về tài sản thế chấp đề nghị xử lý tất cả các tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng rút 01 phần yêu cầu về việc xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 711 và thửa đất số 290.
* Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H và người có quyền lợi, nghĩa vụ ông Nguyễn Xuân T trình bày: Ngày 25/01/2016 bà H, ông T vay của Ngân hàng 500.000.000 đồng và thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền. Khoảng 01 năm sau, ông T đã mang tiền trả cho Ngân hàng, lấy sổ đỏ về nhưng sau đó gia đình đã làm mất giấy tờ trả tiền và sổ đỏ. Gia đình đã báo mất sổ đỏ lên địa chính xã Y. Vợ chồng bà H đã trả xong nợ nhưng Ngân hàng lập hồ sơ giả để bắt vợ chồng bà trả nợ. Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, đơn yêu cầu vay vốn, đơn yêu cầu thế chấp quyền sử dụng đất biên bản làm việc, biên bản xác nhận nhà ở đều không phải chữ ký, chữ viết của bà H. Các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp không giống với các tài liệu gia đình bà H đang lưu giữ như ngày ký hợp đồng vay tiền, ngày ký hợp đồng thế chấp, giấy đăng ký thế chấp. Nay Ngân hàng khởi kiện, vợ chồng bà H, ông T không chấp nhận trả nợ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Nguyễn H2 trình bày: Năm 2016 ông H2 nhận chuyển nhượng từ vợ chồng bà H, ông T 01 thửa đất diện tích 1,1 sào ruộng nước tại cánh đồng 6 mẫu và 05 thửa đất, diện tích 01 sào ruộng nước tại cánh đồng vườn cam, số tiền 58.000.000 đồng. Ông H2 đã thanh toán 55.000.000, còn nợ lại 3.000.000 đồng, khi nào hoàn tất thủ tục sang tên sẽ thanh toán hết. Khi Ngân hàng, Toà án mời lên làm việc, ông H2 mới biết các thửa đất này vợ chồng bà H, ông T đang thế chấp tại Ngân hàng. Ông H2 không yêu cầu Toà án giải quyết về việc chuyển nhượng đất giữa ông H2 và vợ chồng bà H. Ông H2 chỉ đề nghị khi Ngân hàng bán các thửa đất trên thì tạo điều kiện cho ông H2 mua lại vì các thửa đất này gần với ruộng nhà ông H2.
- - Ông Võ Văn D2 trình bày: Thửa đất số 290, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.459,8 m² tại buôn Yang Reh, xã Y thuộc quyền sử dụng của gia đình ông D2. Thửa đất có nguồn gốc do gia đình khai hoang từ năm 1992, sử dụng ổn định cho đến nay. Không hiểu lý do gì lại được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà H, ông T. Ông D2 đã khởi kiện tại Toà án và được TAND tỉnh Đắk Lắk giải quyết tại Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2021/HCST ngày 17/5/2021. Bản án đã quyết định huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 145473 ngày 04/9/2014 đã cấp cho ông T, bà H đối với thửa đất số 290. Bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Ông Lê C1 trình bày: Thửa đất số 711, tờ bản đồ số 39, diện tích 10.385,4 m², tại buôn Yang Reh, xã Y thuộc quyền sử dụng của gia đình ông C1. Thửa đất có nguồn gốc do gia đình ông khai hang từ năm 1996 và sử dụng ổn định cho đến nay không tranh chấp. Năm 2018 ông C1 kê khai cấp giấy chứng nhận mới biết thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng bà H, ông T. Ông C1 đã khởi kiện tại Toà án và được TAND cấp cao tại Đà Nẵng giải quyết tại Bản án hàn chính phúc thẩm số 31/2020/HCPT ngày 24/11/2020. Bản án đã quyết định huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 142405 ngày 04/9/2014 đã cấp cho ông T, bà H đối với thửa đất số 711.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 22/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định: Áp dụng các Điều 299, Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
Buộc bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T phải trả cho Ngân hàng 1.208.680.555 đồng, trong đó nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi 708.680.555 đồng. Tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi trả xong nợ theo hợp đồng tín dụng.
Trường hợp bà H, ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hạn, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm các quyền sử dụng đất của các thửa đất số 106, 642, 680, 708, 709, 710, 730, 731, 732, 733, 752, 579, 638, 643, 677, 684, 702, 703, 704, 20, 21, 22, 23, 506.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 711 và 290.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/8/2024 bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, lý do Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng khi không triệu tập người liên quan theo yêu cầu của bị đơn; thửa đất số 106, tờ bản đồ số 63, giấy chứng nhận số BY 665936 và thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506, 73, giấy chứng nhận số BY 665937 cấp ngày 21/01/2016 cho ông T, bà H theo Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp thông tin là không có các giấy chứng nhận này, nên các giấy chứng nhận mà ngân hàng đang giữ là giả.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn, người đại diện theo uỷ quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để làm rõ hợp đồng tín dụng và các giấy chứng nhận là thật hay giả, để không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H.
- Về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản.
Hợp đồng tín dụng số 5205LAV201600448 ngày 25/01/2016 giữa bên cho vay Ngân hàng N Chi nhánh K, bên vay bà Huỳnh Thị Thu H có nội dung: Ngân hàng cho bà H vay 500.000.000 đồng; mục đích vay chăm sóc cà phê, trồng tiêu, nuôi bò; lãi suất 13 % / năm; lãi suất nợ quá hạn 19,5 %; thời hạn vay 36 tháng kể từ tháng 01/2016; có đảm bảo tiền vay bằng thế chấp. Tại mục người vay có chữ ký đề tên bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liều với đất số [...] ngày 22/01/2016, giữa bên nhận thế chấp Ngân hàng N Chi nhánh K, bên thế chấp bà Huỳnh Thị Thu H, ông Nguyễn Xuân T có nội dung: bà H, ông Thanh thế C2 các quyền sử dụng đất gồm các thửa đất số 680, 708, 709, 710, 730, 731, 732, 733, 752, 106, 711, 290, 579, 638, 643, 677, 684, 702, 703, 704, 642, 20, 21, 22, 23, 506, 73; tờ bản đồ số 38, 39, 63, 14; địa chỉ thôn A, xã Y, huyện krông Bông; tài sản gắn liền với đất là nhà xây cấp 4, diện tích 120 m², theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 145473, BS 142403, BS 142404, BS 145474, BS 142405, BY 665936, BY 665937; nghĩa vụ được bảo đảm tại các hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên gồm nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và chi phí phát sinh, trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng. Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện K ngày 22/01/2016 và được chứng nhận đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K ngày 25/01/2016.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân T đều thừa nhận ngày 25/01/2016 vợ chồng ông T, bà H vay của Ngân hàng N Chi nhánh huyện K 500.000.000 đồng và thế chấp 27 thửa đất tại 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng bà H cho rằng, khoản vay này vợ chồng ông T, bà H đã trả nợ xong vào năm 2017 và đã lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp để khởi kiện như hợp đồng tín dụng, các đơn và giấy đề nghị vay vốn không trùng khớp về mặt thời gian giống như các văn bản bà H đang giữ; chữ ký và chữ viết trên các tài liệu không phải chữ ký, chữ viết của bà H. Tuy nhiên, tại Kết luận giám định số 105/PC09 ngày 09/10/2019 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Huỳnh Thị Thu H trong các tài liệu cần giám định (Giấy xác nhận nhà ở, biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm, đơn yêu cầu đăng ký thế chấp, hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng uỷ quyền) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Huỳnh Thị Thu H trong các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra.
Bà H cho rằng các tài liệu do Ngân hàng cung cấp là giấy tờ giả nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho trình bày của mình. Đồng thời, các tài liệu do bà H cung cấp đều là các tài liệu phô tô, không được các bên thừa nhận nên không phải là chứng cứ theo Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H, ông T cho rằng đã trả xong nợ vào năm 2017, có hoá đơn trả tiền, đã lấy lại 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã làm mất. Tuy nhiên, bà H, ông T đều không cung cấp được các chứng cứ chứng minh về việc vợ chồng bà H đã trả xong khoản vay 500.000.000 đồng cũng như việc trình báo cơ quan có thẩm quyền việc bị mất các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trình bày của bà H là không có cơ sở chấp nhận.
Như vậy, có căn cứ xác định giữa Ngân hàng và vợ chồng bà H, ông T ký kết hợp đồng tín dụng ngày 25/01/2016 với số tiền vay 500.000.000 đồng; ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 22/01/2016 với 27 thửa đất thuộc 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà H, ông T. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, tính đến ngày hết hạn hợp đồng (ngày 24/01/2019), bà H mới trả lãi được 60.666.667 đồng, còn nợ lại nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi 166.744.292 đồng chưa trả là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Toà án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng bà H, ông T cùng có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 505.013.888 đồng, lãi quá hạn 203.666.667 đồng là đúng quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
- Về xử lý tài sản thế chấp.
Tại hợp đồng thế chấp thể hiện vợ chồng bà H, ông T đã thế chấp 27 quyền sử dụng đất theo 07 giấy chứng nhận cho Ngân hàng để đảm bảo cho các nghĩa vụ. Hợp đồng thế chấp được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Y và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K theo khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 81 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật theo khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.
Quá trình giải quyết vụ án, trong 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà vợ chồng bà H, ông Thanh thế C2, có 02 thửa đất số 290 tờ bản đồ số 38 và thửa đất số 711 tờ bản đồ số 39 là của ông Võ Văn D2 và ông Lê C1, nhưng Ủy ban nhân dân huyện K đã cấp nhầm giấy chứng nhận cho vợ chồng bà H, ông T. Ông D2, ông C1 khởi kiện vụ án hành chính, đã được Toà án có thẩm quyền xét xử, quyết định huỷ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 290 và thửa đất số 711 của vợ chồng bà H. Ngân hàng cũng đã rút yêu cầu khởi kiện về việc xử lý đối với 02 tài sản thế chấp này. Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ đối với phần yêu cầu rút này là phù hợp Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng đất ruộng giữa vợ chồng bà H, ông T với ông Nguyễn H2. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu nên Toà án không đặt ra giải quyết là phù hợp.
Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm xử lý tài sản thế chấp gồm 25 thửa đất tại 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà H, ông T là đúng quy định của Điều 299, Điều 323 Bộ luật Dân sự.
- Xét kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H.
Bà H cho rằng Toà án cấp sơ thẩm không triệu tập một số người có liên quan theo yêu cầu của bà H. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện Toà án đã triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản thế chấp, họ đều đã có ý kiến trình bày liên quan đến nội dung vụ án. Không có tài liệu nào thể hiện bà H đề nghị Toà án triệu tập thêm ai, lý do, mục đích triệu tập thêm những người này để làm sáng tỏ nội dung nào của vụ án.
Bà H cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665936 ngày 21/01/2016 đối với thửa đất số 106, số BY 665937 ngày 21/01/2016 đối với các thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506, 73 là giả. Tuy nhiên, tại đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất ngày 22/01/2016 thể hiện Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện K chứng nhận việc bà H, ông T và Ngân hàng đăng ký thế chấp 27 thửa đất trong đó có thửa đất số 106 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665936 và các thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506, 73 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665937. Tại Điều 81 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Điều 20 Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ T1 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất quy định: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ yêu cầu đăng ký thế chấp. Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665936 ngày 21/01/2016 đối với thửa đất số 106 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số BY 665937 ngày 21/01/2016 đối với các thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506, 73 đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và chứng nhận đăng ký thế chấp nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là thật.
- Về hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản.
- Từ những phân tích, nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 22/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 22/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
- Áp dụng Điều 299, Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- Buộc bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T phải trả cho Ngân hàng N 1.208.680.555 đồng (một tỷ hai trăm không tám triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 22/8/2024 là 708.680.555 đồng (bảy trăm không tám triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng).
Tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi bà H, ông T trả xong nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Trường hợp bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hạn, Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm:
- Thửa đất số 680, 708, 709, 710, 730, 731, 732, 733, 752, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.802,7 m², địa chỉ buôn Yang Reh, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 142404 ngày 04/9/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Thửa đất số 20, 21, 22, 23, 506 tờ bản đồ số 14; thửa đất số 73, tờ bản đồ số 18; diện tích 2.445 m², địa chỉ xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665937 ngày 21/01/2016 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Thửa đất số 642, tờ bản đồ số 39, diện tích 10.222,3 m², địa chỉ buôn Yang Reh, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 145474 ngày 04/9/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Thửa đất số 579, 638, 643, 677, 684, 702, 703, 704, tờ bản đồ số 39, diện tích 3.295,6 m², địa chỉ buôn Yang Reh, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 142403 ngày 04/9/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 63, diện tích 178 m², địa chỉ thôn A, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665936 ngày 21/01/2016 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Buộc bà Huỳnh Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân T phải trả cho Ngân hàng N 1.208.680.555 đồng (một tỷ hai trăm không tám triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), nợ lãi tính đến ngày 22/8/2024 là 708.680.555 đồng (bảy trăm không tám triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với:
- Thửa đất số 711, tờ bản đồ số 39, diện tích 10.385,4 m², địa chỉ buôn Yang Reh, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 142405 ngày 04/9/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Thửa đất số 290, tờ bản đồ số 38, diện tích 1.459,8 m², địa chỉ buôn Yang Reh, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 145473 ngày 04/9/2014 đứng tên hộ ông Nguyễn Xuân T và bà Huỳnh Thị Thu H.
- Về án phí:
- Bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu 48.260.416 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Khấu trừ vào 300.000 đồng bà H đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu số 7189 ngày 13/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
- Trả lại cho Ngân hàng N 15.334.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 5849 ngày 01/4/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk
- Về chi phí tố tụng:
- Bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu 5.040.000 đồng chi phí giám định chữ ký, chữ viết (đã chi phí xong).
- Bà Huỳnh Thị Thu H phải thanh toán cho Ngân hàng N 6.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 102/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 102/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Thu H. Giú nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
