Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/DS-PT

Ngày: 25-02-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và

tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi

trái pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Trúc

Ông Nguyễn Trung Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 730/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 48/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1941; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (chết ngày 18/6/2019).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà S:

  1. Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: số C đường H, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Bà Lê Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Bà Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1964; địa chỉ: số C đường H, tổ F, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1967; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  5. Bà Võ Thị Hồng N1, sinh năm 1973; địa chỉ: số C đường H, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  6. Ông Võ Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: số 288/5/3, tổ 68, khu phố 7, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  7. Bà Võ Thị Phương T2, sinh năm 1981; địa chỉ: số 288/5/1A, tổ 68, khu phố 7, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
  8. Bà Võ Thị M, sinh năm 1983; địa chỉ: số H khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp cho bà M, bà N, bà T2, bà N1, bà Đ1, bà T, ông T1, ông Đ: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1975; địa chỉ: số C tổ B, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/12/2019), có mặt.

- Ông Võ Đức H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số B, tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Bị đơn: Ông Đặng Văn T3, sinh năm 1962; địa chỉ: tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Đ1, sinh năm 1967; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  2. Ông Lê Minh V1, sinh năm 1979; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
  3. Ông Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm 1970; địa chỉ: số A đường N, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  4. Bà Võ Thị Phương T2, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, tổ F, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  5. Ông Võ Đức H, sinh năm 1976; địa chỉ: số B, tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  6. Bà Đặng Thị Hồng T4, sinh năm 1985; địa chỉ: số B khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  7. Bà Đặng Thị Hoài T5, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  8. Ông Đặng Minh T6, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ F, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người kháng cáo: bị đơn ông Đặng Văn T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2018 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông Phạm Văn V trình bày:

Bà Lê Thị S là chủ sử dụng phần đất 198,9m² thuộc thửa đất số 815, tờ bản đồ số 11 tại khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ085127, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H56109, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 16/11/2019. Quyền sử dụng đất của bà Lê Thị S tại hướng Nam có cạnh tiếp giáp phần đất của ông Đặng Văn T3 và lối đi có diện tích đo đạc thực tế là 112,8m². Lối đi chung này đã được hình thành từ rất lâu đời (trên 70 năm) hai bên lối đi đã được các chủ sử dụng đất liên ranh là ông Trương Văn C và bà Đặng Thị H1 xây dựng hàng rào bằng lưới B40 từ trước năm 1990. Đến năm 1997, sau khi được bà H1 cho đất thì ông T3 xây dựng lại hàng rào bằng móng gạch kiên cố. Năm 2016, do nhu cầu sử dụng lối đi nên gia đình bà S cải tạo lối đi cho sạch sẽ, thuận tiện việc đi lại thì ông T3 không đồng ý vì cho rằng lối đi này thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông T3 và các bên xảy ra tranh chấp. Do hai bên không hòa giải được nên bà S tiến hành khởi kiện để yêu cầu được sử dụng lối đi đang tranh chấp vì ngoài lối đi này thì gia đình bà S và những người phía bên trong phần đất của bà S không còn lối đi nào khác để sử dụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi có diện tích đo đạc thực tế là 112,8m² (theo đơn khởi kiện ban đầu giảm 2,2m²), yêu cầu Tòa án công nhận lối đi có diện tích 112,8m² là lối đi chung cho các gia đình. Đối với yêu cầu phản tố của ông T3 thì những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà S không đồng ý. Vì phần đất này bà S và những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà S đã quản lý sử dụng từ lâu năm, xây dựng nhà xe trên đất, phần ranh giới giữa hai gia đình đã ổn định từ ngày xưa cho đến nay. Năm 1997, ông T3 là người tiến hành xây dựng phần hàng rào kiên cố bằng gạch để phân định mốc giới ranh đất giữa gia đình ông T3 và các phần đất liên ranh. Phần lối đi đang tranh chấp thì ông T3 cũng đã tiến hành xây dựng phần hàng rào kết cấu móng bằng gạch, kéo lưới B40 làm ranh rõ ràng. Do đó, ông T3 cho rằng gia đình bà S lấn đất và yêu cầu tháo dỡ nhà xe, hoàn trả đất là hoàn toàn không có căn cứ nên không đồng ý trước yêu cầu phản tố của ông T3. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà S thống nhất yêu cầu của bà Lê Thị Đ1 về việc kiến nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Văn T3 liên quan đến lối đi đang tranh chấp để điều chỉnh lối đi cho phù hợp hiện trạng.

Bị đơn ông Đặng Văn T3 và người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Nguyễn Hoàng M1 trình bày:

Ông Đặng Văn T3 là chủ sử dụng phần đất diện tích 616m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L076042, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349QSDĐ, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M2 cấp cho ông Đặng Văn T3 ngày 18/5/1998. Theo đơn khởi kiện, bà Lê Thị S đang khởi kiện ông T3 để yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có chiều dài 35m, chiều rộng 3,3m, diện tích 115m² (qua đo đạc thực tế là 112,8m²) có vị trí tứ cận: Hướng Bắc giáp lối đi; hướng Nam giáp hẻm Đ; hướng Tây giáp đất ông Trương Văn C; hướng Đông giáp đất ông Đặng Văn T3 là lối đi chung (phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông T3 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng mà ông T3 đã được Cơ quan có thẩm quyền cấp).

Sau khi có kết quả đo đạc thì ông T3 xác định ranh giới (cạnh hướng Bắc) diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông T3 có sự thay đổi đáng kể là vì trong quá trình sử dụng đất, bà S đã lấn chiếm quyền sử dụng đất của ông T3 với diện tích đất 59,3m² (trên đất có căn nhà tạm để xe, diện tích sàn xây dựng khoảng 41m²). Diện tích đất mà bà S lấn chiếm quyền sử dụng của ông T3 có tứ cận cụ thể như sau: Phía Bắc giáp đất thuộc quyền sử dụng của bà S, phía Nam giáp đất thuộc quyền sử dụng của ông T3; phía Đông giáp đất thuộc quyền sử dụng của ông T3; phía Tây giáp đất thuộc quyền sử dụng của ông C. Đối với hiện trạng hàng rào ranh giới phân định ranh đất giữa bà S và ông T3 mà đại diện nguyên đơn trình bày được ông T3 xây dựng năm 1997 là hoàn toàn không đúng. Phần hàng rào này được ông T3 xây dựng vào năm 2007 cùng với hàng rào móng gạch lưới B40 tiếp giáp phần diện tích bà S đang tranh chấp là được ông T3 xây dựng cùng một thời gian. Do nghĩ chỗ tình làng nghĩa xóm nên ông T3 mới cho bà S sử dụng phần đất của ông T3 để đi lại cho thuận tiện.

Ông T3 có yêu cầu phản tố đối với: ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Ngọc N, bàLê Thị Đ1, bàVõ Thị Hồng N1, ông Võ Đức H, ông Võ Văn T1, bàVõ Thị Phương T2 và bà Võ Thị M (là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà S), đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S, tuyên buộc ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Ngọc N, bà Lê Thị Đ1, bà Võ Thị Hồng N1, ông Võ Đức H, ông Võ Văn T1, bà Võ Thị Phương T2 và bà Võ Thị M phải chấm dứt hành vi sử dụng diện tích đất 112,8m² để làm lối đi; yêu cầu công nhận diện tích đất khoảng 59,3m² thuộc quyền sử dụng của ông T3 và buộc ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị T, bàLê Thị Ngọc N, bàLê Thị Đ1, bà Võ Thị Hồng N1, ông Võ Đức H, ông Võ Văn T1,bà Võ Thị Phương T2 và bà Võ Thị M phải di dời toàn bộ căn nhà tạm (nhà xe) để ông T3 xây dựng hàng rào xác lập ranh giới quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Đối với chi phí di dời phần nhà xe thì ông T3 không đồng ý hỗ trợ chi phí di dời hoặc bồi hoàn giá trị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ1 trình bày:

Thống nhất với toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị S. Ngày 20/11/2021, bà Lê Thị Đ1 có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L076042, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 3119 QSDĐ do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 18/5/1998 cho ông Đặng Văn T3 để điều chỉnh lối đi đang tranh chấp theo đúng hiện trạng quyền sử dụng đất ông T3 đang sử dụng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày ông Lê Minh V1 trình bày: Ông Lê Minh V1 là chủ sử dụng phần đất diện tích 310,7m² thuộc thửa đất số 1027, tờ bản đồ số 11 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS07333 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/3/2018 cho ông Lê Minh V1. Về nguồn gốc đất là do ông V1 nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị Ngọc N. Tại thời điểm ông V1 nhận chuyển nhượng, làm các thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng lối đi diện tích đo đạc thực tế là 112,8m² để đi lại hàng ngày thì ông T3 không có bất kỳ ý kiến phản đối hay ngăn cản nào. Thời điểm khi gia đình bà S thực hiện việc nâng cấp con đường đi thì giữa gia đình bà S và ông T3 mới phát sinh tranh chấp. Hiện nay, ông V1 yêu cầu được sử dụng lối đi đang tranh chấp để làm lối đi chung.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày ông Nguyễn Hữu Đ2 trình bày:

Ông Nguyễn Hữu Đ2 là chủ sử dụng phần đất diện tích 136,6m² thuộc thửa đất số 798, tờ bản đồ số 11, đất có giáp ranh với bà Lê Thị S, ông Lê Văn H2. Về nguồn gốc do ông Nguyễn Hữu Đ2 nhận chuyển nhượng từ ông Võ Đức H là con của bà Lê Thị S vào năm 2020. Ông Nguyễn Hữu Đ2 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 575744, ngày 06/8/2020. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông Đ2 không sử dụng lối đi đang tranh chấp giữa bà S và ông T3 mà sử dụng lối đi tiếp giáp phần đất của ông Lê Văn H2. Hiện nay, ông Đ2 không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với việc tranh chấp giữa bà S và ông T3, nếu có phát sinh tranh chấp thì ông Đ2 sẽ khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Phương T2: không có ý kiến, thống nhất theo yêu cầu của bà Lê Thị Đ1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đức H: không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Hồng T4, Đặng Thị Hoài T5 và ông Đặng Minh T6 trình bày: Bà T4, ông T6 và bà T5 không có đóng góp gì đối với phần đất đang tranh chấp. Bà T4, ông T6 và bà T5 thống nhất theo yêu cầu phản tố của ông Đặng Văn T3 không bổ sung ý kiến gì khác.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị S do ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Ngọc N, bà Lê Thị Đ1, bà Võ Thị Hồng N1, ông Võ Đức H, ông Võ Văn T1, bà Võ Thị Phương T2, bà Võ Thị M kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng đối với bị đơn ông Đặng Văn T3 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
  2. Công nhận phần lối đi có chiều ngang tiếp giáp đường nhựa 3,5m và chiều ngang tiếp giáp lối đi tự mở của gia đình bà S là 2,87m, chiều dài tiếp giáp đất ông Trương Văn C là 34,93m và tiếp giáp đất ông T3 là 35,63m, tổng diện tích đất tranh chấp là 112,8m² tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là lối đi.

    Có tứ cận:

    • Hướng Bắc giáp đất bà Lê Thị S;
    • Hướng Nam giáp đường nhựa;
    • Hướng Tây giáp đất ông Trương Văn C;
    • Hướng Đông giáp đất ông Đặng Văn T3.

    Bà Lê Thị Đ1, ông Lê Minh V1, ông Võ Đức H, bà Võ Thị Phương T2 được quyền sử dụng làm lối đi (có sơ đồ bản vẽ kèm theo)

  3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đặng Văn T3 đối với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị S là ông Lê Văn Đ, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Ngọc N, bà Lê Thị Đ1, bà Võ Thị Hồng N1, ông Võ Đức H, ông Võ Văn T1, bà Võ Thị Phương T2, bà Võ Thị M về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật.
  4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lê Thị Đ1 đối với bị đơn ông Đặng Văn T3 về việc kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L076042, số vào sổ cấp GCN 3119 QSDĐ do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M2 cấp cho ông Đặng Văn T3 ngày 18/5/1998 để điều chỉnh lại diện tích đất theo đúng hiện trạng thực tế mà ông T3 đang quản lý, sử dụng đất và cập nhật hiện trạng lối đi.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/9/2024 bị đơn ông Đặng Văn T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T3 xác định ông không ủy quyền cho ông Nguyễn Hoàng M1 tại Tòa án cấp phúc thẩm. Ông T3 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo và phản tố. Người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lê Thị S là ông Phan Văn V2 vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhai về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn T3, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị S và cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đức H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu Đ2, bà Võ Thị Phương T2, bà Đặng Thị Hồng T4, bà Đặng Thị Hoài T5, ông Đặng Minh T6 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Lê Thị S khởi kiện yêu cầu công nhận diện tích theo đo đạc thực tế là 112,8m² là lối đi chung. Bị đơn không đồng ý, cho rằng diện tích lối đi nguyên đơn tranh chấp là thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 349 QSDĐ do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M2 cấp cho ông Đặng Văn T3 ngày 18/5/1998 nên ông T3 có đơn phản tố yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị S chấm dứt hành vi sử dụng lối đi, trả lại quyền sử dụng đất trên, đồng thời bà S sử dụng lấn đất của ông T3 phần diện tích theo đo đạc 59,3m² nên ông T3 yêu cầu công nhận diện tích đất trên và buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị S di dời nhà tạm trả lại diện tích đã lấn nêu trên.

[3] Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lê Thị S thể hiện:

Bà Lê Thị S được UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 373/QSDĐ ngày 18/5/1998 tại khu đất có diện tích 865m², phường P, đất có tứ cận: phía Bắc giáp Võ Văn T7, Lê Văn H3; phía Nam giáp Đặng Văn T3, Đặng Thị H1; phía Đông giáp Lê Văn T8; phía Tây giáp Võ Văn T7.

Năm 2004, bà S lập thủ tục chuyển nhượng một phần diện tích 316m² cho bà Lê Thị Ngọc N được Phòng N2 (nay là phòng T13) Thủ Dầu Một khảo sát, kiểm tra hiện trạng thửa đất tại Biên bản ngày 17/06/2004, xác định: diện tích đo đạc thực tế là 876m² (tăng 11m² so với bản đồ chính quy), cạnh thửa đất phía Nam tiếp giáp lối đi 3,3m. Phần diện tích còn lại, bà S được UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 673.QSDĐ ngày 09/09/2004 tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 11, diện tích 560m², phường P, đất có tứ cận: phía Tây giáp Lê Thị Ngọc N, Lê Thị Đ1; phía Nam giáp lối đi 3,3m.

Năm 2005, bà S lập thủ tục chuyển nhượng cho bà Lê Thị Đ1 với diện tích 118m², thửa số 465, tờ bản đồ số 11, phường P. Phần diện tích còn lại, bà S được UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H06847 ngày 26/09/2005, thửa đất số 464, tờ bản đồ số 11, diện tích 42m², phường P, đất có tứ cận: phía Bắc giáp Trần Văn T9; phía Nam giáp Đăng Thị H4, lối đi 3,3m; phía Đông giáp Lê Văn H2; phía Tây giáp Lê Thị Đ1, Trương Văn C.

Năm 2009, bà S lập thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Võ Đức H với diện tích 136,6m² được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thị xã (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ3) Thủ Dầu Một kiểm tra hiện trạng tại Biên bản kiểm tra địa chính ngày 14/9/2009, xác định: diện tích còn lại 259,9m², số thửa đất mới 814, 815, tờ bản đồ 11, biên bản có ghi chú nội dung: “Diện tích giảm 45,5m². Do tách thửa một phần cho con và tự bỏ đất mở lối đi chung. Hiện trạng ranh đất có tường rào ổn định”.

Ngày 16/11/2009, UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H56109 cho bà Lê Thị S tại thửa đất số 815, tờ bản đồ số 11, diện tích 198,7m², phường P, có tứ cận: phía Bắc giáp Trần Văn T9, phía Nam giáp Đặng Thị H1, lối đi 3,3m, phía Đông giáp Võ Đức H, phía Tây giáp Võ Thị Phương T2, lối đi tự mở 1,5m – 2m.

[4] Tại Công văn số 65/TNMT ngày 27/02/2020 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T13 đã xác định “Việc thể hiện lối đi 3,3m trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H56109 ngày 16/11/2009 của bà Lê Thị S được cấp đổi từ Gi ấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 373/QDSÐ ngà y 18/5/1998 và Bản đồ địa chính chính quy năm 1999 của phường P... Khi UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H56109 ngày 16/11/2009 cho bà Lê Thị S, hình thể và diện tích thửa đất dựa vào kết quả khảo sát, đo đạc thể hiện tại Biên bản kiểm tra địa chính lập ngày 14/09/2009 và Sơ đồ trích đo khu đất ngày 06/10/2009 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ3) Thủ Dầu M2.... Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H56109 ngày 16/11/2009 của bà Lê Thị S được UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp tại thửa đất số 815, tờ bản đồ số 11, diện tích 198,7m², phường P và Bản đồ địa chính chính quy năm 1999, năm 2011 của phường P có thể hiện lối đi 3,3m nêu trên”.

[5] Như vậy, có căn cứ xác định lối đi bà S tranh chấp được cập nhật trên giấy chứng nhận của bà S từ năm 2004 và lối đi tranh chấp được cập nhật trên Bản đồ địa chính chính quy năm 1999, 2011.

[6] Ông Đặng Văn T3 kháng cáo cho rằng, diện tích lối đi trên là do ông T3 cho bà S đi nhờ vì trước thời điểm năm 1999 giấy chứng nhận bà S cũng như ông T3, ông Trương Văn C là chủ sử dụng đất giáp ranh với ông T3 đều không thể hiện lối đi và ngoài lối đi tranh chấp gia đình bá S còn có lối đi khác.

[7] Xét, theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T3 thể hiện, ngày 16/9/1993 ông Đặng Văn T3 có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 616m² tại phường P được UBND xã (nay là phường) P xác nhận ngày 16/9/1993. Ngày 16/9/1993, Phòng N2 (nay là Phòng T13) Thủ Dầu M2 có biên bản kiểm tra địa chính và khảo sát hiện trạng diện tích sử dụng khu đất nêu trên, xác định hiện trạng đã xây dựng nhà ở. Tứ cận thể hiện như sau: phía Bắc giáp Lê Thị S, phía Nam giáp đường mòn, phía Đông giáp Đặng Thị H1, phía Tây giáp Trương Văn C. Ngày 25/12/1993, UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1408 cho ông Đặng Văn T3 đối với diện tích 616m² (300m² thổ cư, 316m² đất sản xuất nông nghiệp), phường P, có tứ cận: phía Bắc giáp Lê Thị S, phía Nam giáp đường mòn, phía Đông giáp Đặng Thị H1, phía Tây giáp Trương Văn C. Ngày 18/5/1998, UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M2 cấp Giấy chứng nhận số 349.QSDĐ cho ông Đặng Văn T3 đối với diện tích 616m² (300m² thổ cư, 316m² đất sản xuất nông nghiệp), phường P, hình thể tứ cận không tiếp giáp lối đi.

Như vậy, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T3 không thể hiện lối đi tại cạnh hướng Tây (lối đi đang tranh chấp).

[8] Đối với quyền sử dụng đất của ông C. Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C thể hiện năm 2016, ông Trương Văn C lập thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/4/2016 ghi nhận “Diện tích giảm 27.1m² so với GCNQSDĐ đã cấp, do trước đây đo cấp đại trà, chưa có bản đồ chính quy, một phần tại cạnh hướng nam trước đây là đường mòn nay được nhà nước đầu tư nâng cấp và lòng nhựa (5.0m), cạnh hướng đông hiện có tiếp giáp lối đi cho các hộ bên trong ra vào thuận tiện, hiện trạng ranh đất là tường rào và lưới B40 cố định đo đạc có sự chỉ ranh của chủ sử dụng và thống nhất cùng công chức địa chính phường”, bản mô tả này có sự xác nhận của người sử dụng đất liền kề ký xác nhận ranh giới, mốc giới sử dụng đất gồm Trần Quang T10, ông Đặng Văn T3, Lê Thị S và Lê Thị Đ1. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2020 thể hiện lối đi tranh chấp có vị trí, tứ cận như sau: Hướng Bắc giáp đất bà Lê Thị S, hướng Nam giáp đường nhựa, hướng Tây giáp đất ông Trương Văn C và hướng Đông giáp đất ông Đặng Văn T3. Hiện trạng lối đi trên được bà Lê Thị S, bà Lê Thị Đ1, ông Lê Minh V1, ông Võ Đức H, bà Võ Thị Phương T2 sử dụng. Lối đi trên là đường đất, hai bên lối đi đã được xây dựng hàng rào lưới B40 kiên cố. Chứng cứ trên chứng minh hiện trạng lối đi đã được chủ sử dụng liền kề là ông C và ông T3 thống nhất ranh giới.

[9] Tại Văn bản số 1282/CNTDM-LT ngày 03/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ3 đã giải thích lý do vì sao trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T11 không thể hiện tiếp giáp lối đi như ghi nhận tại Phiếu lấy ý kiến ngày 25/4/2016 mà thể hiện giáp đất ông T3 như sau “Năm 2016, ông Trương Văn C lập thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Phiếu lấy ý kiến về việc thay đổi ranh giới thửa đất ngày 25/4/2016, “cạnh hướng đông hiện có tiếp giáp lối đi cho các hộ bên trong ra vào thuận tiện”. Trên bản đồ chính quy năm 2011, cạnh hướng Tây thửa đất ông Đặng Văn T3 có khoảng trống, không thể hiện lối đi tự mở. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 349 ngày 18/5/1998 cấp cho ông Đặng Văn T3, cạnh hướng Tây tiếp giáp ông Trương Văn C. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 61/ĐS QSDĐ/PH ngày 14/4/1998, hướng Đông tiếp giáp ông Đặng Văn T3. Tuy nhiên, phần lối đi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn T3 chưa thực hiện việc thu hồi nên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai vẫn thể hiện liên ranh là ông Đặng Văn T3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 61/ĐS QSDĐ/PH ngày 14/4/1998 đã được thu hồi”.

[10] Như vậy, có căn cứ xác định đối với lối đi tranh chấp đã đã được ông C, ông T3 thống nhất ranh giới bất động sản liền kề theo quy định tại Điều 265 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi ký thống nhất ranh, ông T3 chưa điều chỉnh giấy chứng nhận cho phù hợp với hiện trạng thực tế.

[11] Theo kết quả xác minh tại Biên bản xác minh ngày 10/4/2024, Ủy ban nhân dân phường P đã cung cấp thông tin: “Phần lối đi ghi chú là “đường đất” tiếp giáp cạnh hướng Bắc của ông T3 là do ông Lê Văn H5 chừa ra khi tách thửa cho các con và đường này cũng không thuộc danh mục phường quản lý. Về nguồn gốc hình thành lối đi chính xác từ thời gian nào thì địa phương không xác định rõ vì lối đi không thuộc danh mục địa phượng quản lý”. Như vậy, con đường đất tiếp giáp cạnh hướng Bắc thửa đất của ông T3 là đất của ông H2 bỏ ra làm đường khi tách thửa đất cho các con, không phải là lối đi chung của các hộ dân phía trong nên bị đơn ông Đặng Văn T3 cho rằng ngoài lối đi đang tranh chấp thì nguyên đơn còn có lối đi khác là không phù hợp.

[12] Đối với diện tích tranh chấp 59,3m², ông T3 cho rằng thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 349 ngày 18/5/1998 cấp cho ông Đặng Văn T3. Xét, căn cứ kết quả đo đạc tại Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ3 ngày 15/3/2021, nếu cộng phần diện tích ông T3 chưa chỉ đúng ranh đất thì hiện trạng đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T3 (không bao gồm phần đất tranh chấp) có diện tích 613,8m², so sánh với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998 thì giảm 2,2m² là giảm diện tích không đáng kể, nếu cộng diện tích lối đi đang tranh chấp thì phần đất của ông T3 là 673,1m², tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 57,1m² là không phù hợp với diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T3. Ngoài ra, theo kết quả thẩm định và đo đạc thể hiện trên phần đất tranh chấp có 01 nhà xe kết cấu mái tôn, nền xi măng, vách tôn do bà S xây dựng năm 2014 và 01 căn nhà kết cấu vách tường xây không tô, mái tôn, nền đất do ông H xây dựng năm 2019, xung quanh khu đất đã có tường xây, trong quá trình quản lý, sử dụng đất chính ông T3 là người xây dựng hàng rào bao quanh khu đất của mình để xác định ranh giới với đất của bà S, khi bà S xây dựng các công trình trên đất ông T3 không khiếu nại hay tranh chấp. Ngoài ra, trong quá trình quản lý, sử dụng đất chính ông T3 là người xây dựng hàng rào bao quanh khu đất của mình để xác định ranh giới với đất của bà S. Do đó, có căn cứ xác định ông T3 đã xác lập ranh giới đất trên thực tế với bà S theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nên ông T3 cho rằng bà S quá trình quản lý, sử dụng đất đã lấn đất của ông T3 với diện tích 59,3m² là không có căn cứ.

[13] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ1 và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông T3 là có căn cứ. Ông T3 kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên kháng cáo không được chấp nhận.

[14] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.

[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đặng Văn T3 là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đặng Văn T3.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 140/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đăng Văn T12 được miễn nộp án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
  • - TAND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mộng Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật

  • Số bản án: 102/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger