|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2024/DS-ST
Ngày: 10- 12 - 2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Thủy
2. Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 304/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP L
Địa chỉ: Số 40-42-44 đường T, phường V, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền, theo Quyết định ủy quyền số: 3102/QĐ-NHKL ngày 12/11/2024:
- + Ông Phan Vũ Trường S- Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Thẻ và Tài chính vi mô- Phòng Xử lý nợ- Ngân hàng TMCP L. (có mặt)
- + Bà Đỗ Thị H- Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Thẻ và Tài chính vi mô- Phòng Xử lý nợ- Ngân hàng TMCP L. (vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Văn H1- Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Thẻ và Tài chính vi mô- Phòng Xử lý nợ- Ngân hàng TMCP L. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng N, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: E1- căn số 23, đường số 11C, khu đô thị C, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP L trình bày:
Ông Lê Hoàng N có ký kết Giấy đăng ký phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K số: 0926/20/TC/1001-07293 ngày 07/10/2020 với Ngân hàng TMCP L – Phòng giao dịch S. Theo nội dung hợp đồng, ông N đề nghị và Ngân hàng đồng ý cấp cho ông Lê Hoàng N thẻ tín dụng JCB GOLD, số tài khoản thẻ: 0000000000000063980, hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), không có biện pháp bảo đảm; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 36 tháng; Lãi suất cho vay 22%/năm, Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Phí chậm trả lãi 3,5% x số tiền chậm trả, phí vượt hạn mức 0,075%/ngày; hình thức thanh toán dư nợ gốc + lãi thanh toán theo thông báo sao kê hàng tháng của Ngân hàng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông N đã nhận thẻ và sử dụng thẻ tín dụng để giao dịch theo hạn mức được cấp; tuy Nên ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng ký kết, ông N chỉ thực hiện thanh toán đến kỳ sao kê ngày 26/8/2022 thì ngưng không thanh toán nữa, mặc dù Ngân hàng đã Nều lần thông báo, nhắc nhở, ông N cũng Nều lần cam kết nhưng vẫn không thực hiện đúng cam kết và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán, ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N và tiến hành khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết:
- - Buộc bị đơn ông Lê Hoàng N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ của thẻ tín dụng tính đến ngày 12/3/2024 là 60.338.757 đồng –Sáu mươi triệu ba trăm ba mươi tám nghìn bảy trăm năm mươi bảy đồng (trong đó nợ gốc là 36.277.389 đồng, lãi phát sinh 16.743.231 đồng, phí phát sinh 7.318.137 đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 13/3/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận theo biểu lãi suất thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng khi được phát hành thẻ.
- - Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Lê Hoàng N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng có quyền Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
- - Buộc ông Lê Hoàng N phải chịu toàn bộ tiền án phí và các chi phí tố tụng khác có liên quan đến vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Phan Vũ Trường S xác định: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn ông Lê Hoàng N; đồng thời xác định số tiền nợ của thẻ tín dụng yêu cầu ông N thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/12/2024) là 75.262.794 đồng –Bảy mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng (trong đó nợ gốc là
42.591.564 đồng, tổng lãi phát sinh 18.854.821 đồng, phí phạt chậm thanh toán 10.816.409 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên 3.000.000 đồng).
* Bị đơn ông Lê Hoàng N trình bày tại bản tự khai và Đơn xin vắng mặt đề ngày 15/11/2024 như sau:
Ông N thừa nhận có nợ Ngân hàng TMCP L số tiền theo như Thông báo thụ lý vụ án số 304 ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, thừa nhận số tiền nợ trên của Ngân hàng TMCP L. Đồng thời ông N xin được vắng mặt tại tất cả phiên hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên ý kiến trình bày tại bản tự khai cho đến khi vụ kiện được Tòa án giải quyết xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP L khởi kiện đối với bị đơn ông Lê Hoàng N; địa chỉ cư trú khi giao kết hợp đồng tại E1- căn số 23, đường số 11C, khu đô thị C, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang; yêu cầu ông N trả nợ vay theo Giấy đăng ký phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K số: 0926/20/TC/1001-07293 ngày 07/10/2020. Do đó, Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" và theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Ông Lê Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin vắng mặt, đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Phan Vũ Trường S đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ý kiến trình bày của bị đơn tại bản tự khai, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Giữa Ngân hàng TMCP L- Chi nhánh G và ông Lê Hoàng N đã tự nguyện giao kết Giấy đăng ký phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K số: 0926/20/TC/1001-07293 ngày 07/10/2020. Theo nội dung hợp đồng, ông N đề nghị và Ngân hàng đồng ý cấp cho ông Lê Hoàng N thẻ tín dụng JCB GOLD, số tài khoản thẻ: 0000000000000063980, hạn mức 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), không có biện pháp bảo đảm; Mục đích vay: Tiêu dùng; Thời hạn vay: 36 tháng; Lãi suất cho vay 22%/năm, Lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Phí
chậm trả lãi 3,5% x số tiền chậm trả, phí vượt hạn mức 0,075%/ngày; hình thức thanh toán dư nợ gốc + lãi thanh toán theo thông báo sao kê hàng tháng của Ngân hàng. Xét việc giao kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế nêu trên giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, đúng trình tự quy định, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, do đó hợp đồng giao kết giữa các bên là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Hoàng N đã nhận thẻ và sử dụng thẻ tín dụng để giao dịch theo hạn mức được cấp; tuy Nên ông N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng ký kết, quá trình giải quyết vụ án ông N đã có bản tự khai trình bày ý kiến thừa nhận khoản nợ đối với ngân hàng. Theo xác nhận của đại diện nguyên đơn, hiện tại ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N, toàn bộ khoản vay của ông N đã chuyển sang nợ quá hạn nhưng ông N vẫn không thanh toán được nợ vay cho ngân hàng, dư nợ của thẻ tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/12/2024) là: 75.262.794 đồng –Bảy mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng (trong đó nợ gốc là 42.591.564 đồng, tổng lãi phát sinh 18.854.821 đồng, phí phạt chậm thanh toán 10.816.409 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên 3.000.000 đồng).
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả nợ của bên vay; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức, tín dụng năm 2010 quy định về việc thỏa thuận lãi suất trong hoạt động kinh doanh tín dụng, việc chấm dứt cấp tín dụng, xử lý nợ, miễn, giảm lãi suất; Điều 7 và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; đối chiếu với nội dung Hợp đồng tín dụng hai bên đã giao kết thì ông N đã vi phạm nghĩa vụ nên phải có trách Nệm thanh toán toàn bộ nợ vay gốc, lãi, phí phát sinh nêu trên cho ngân hàng là có căn cứ pháp luật.
[4] Từ những phân tích nêu trên, sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP L số tiền dư nợ thẻ tín dụng gốc, lãi, phí tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 10/12/2024) là: 75.262.794 đồng (Bảy mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng) và tiền lãi, phí phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 11/12/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận theo biểu lãi suất thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng khi được phát hành thẻ, cho đến khi ông N thanh toán dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo;
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm có giá ngạch tính trên số tiền bị buộc phải thanh toán cho nguyên đơn tại thời điểm xét xử là 75.262.794 đồng, án phí là: 75.262.794
đồng x 5% = 3.763.000 đồng (Ba triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng); hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.510.000 đồng (Một triệu năm trăm mười nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/N-HĐTP ngày 11/11/2019; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP L về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Lê Hoàng N.
- - Buộc ông Lê Hoàng N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP L số tiền dư nợ thẻ tín dụng theo Giấy đăng ký phát hành kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K số: 0926/20/TC/1001-07293 ngày 07/10/2020, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (10/12/2024) là 75.262.794 đồng –Bảy mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng (trong đó nợ gốc là 42.591.564 đồng, tổng lãi phát sinh 18.854.821 đồng, phí phạt chậm thanh toán 10.816.409 đồng, phí vượt hạn mức/phí thường niên 3.000.000 đồng).
- Ngoài ra ông Lê Hoàng N còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi, phí phát sinh trên dư nợ gốc kể từ ngày 11/12/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận theo biểu lãi suất thỏa thuận giữa Ngân hàng và khách hàng khi được phát hành thẻ, cho đến khi ông N thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bị đơn ông Lê Hoàng N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.763.000 đồng (Ba triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn đồng).
- Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP L số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 1.510.000 đồng (Một triệu năm trăm mười nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0004810 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/12/2024). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Yến |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
| Nguyễn Thanh Sơn | Hà Thị Thủy | Huỳnh Kim Yến |
Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 102/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP L tranh chấp hợp đồng tín dụng với Lê Hoang N, yêu cầu trả tiền vay
