Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 08-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Luyến

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Mạnh Hùng và ông Dương Văn Sinh

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đắc Thắng và bà Vũ Thị L - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 29/10/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng S, sinh năm 2003 tại C, Hải Dương;

Nơi cư trú và chỗ ở: KDC P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H.

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Dương Thế D, sinh năm 2001;

Trú tại: KDC P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; anh Nguyễn Đình N, sinh năm 2001; chị Đào Thị U, sinh năm 1996; anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1979 - Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 26/8/2024, anh D đi chơi, khi đi anh có để trên chiếc bàn nhựa màu xanh trong phòng ngủ của anh 04 chiếc điện thoại gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, số IMEI: 359486087723068, bên trong không lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám, số IMEI: 353224101308418, bên trong không lắp sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, số IMEI: 353223102713063 bên trong không lắp sim, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng hồng, số IMEI: 3594844087769272, bên trong không lắp sim, 04 chiếc điện thoại này bên ngoài đều có ốp điện thoại chất liệu: nhựa dẻo, màu trong suốt.

Tối ngày 26/8/2024, S đến nhà anh D chơi. S nghi để rơi giấy phép lái xe của mình tại nhà anh D nên khoảng 5 giờ ngày 27/8/2024, S đi bộ đến nhà anh D tìm giấy phép lái xe. Khi đến nhà anh D, S thấy bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 (mẹ của D) đang ngồi trước hiên nhà, S hỏi bà H: Duyệt có nhà không và xin vào nhà tìm giấy phép lái xe để quên tối hôm trước thì bà H bảo “Duyệt đi đâu chưa về, cứ vào lấy đi”. S đi thẳng vào phòng ngủ của anh D để tìm nhưng không thấy, S quan sát thấy trên mặt bàn bằng nhựa có 04 chiếc điện thoại, bà H ở bên ngoài hiên không để ý, trong nhà không có ai, nên nảy sinh ý định lấy trộm 04 chiếc điện thoại của D đem đi bán lấy tiền tiêu xài. S dùng tay cầm 04 chiếc điện thoại giấu vào người và đi về. Khi đi đến khu vực cổng trường THCS H2, S gặp Nguyễn Đình N, sinh năm 2001, trú tại Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, S nói với N là S có 04 chiếc điện thoại di động cũ không dùng nữa nhờ N tìm người bán hộ, N đồng ý (N không biết 04 chiếc điện thoại trên do S trộm cắp mà có).

Sau đó, N bán cho ông Nguyễn Đình H1, sinh năm 1979, trú tại: Khu dân cư H, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng hồng với giá 1.500.000 đồng; N mua của S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s để sử dụng với giá là 600.000đồng, S bán cho chị Đào Thị U, sinh năm 1996, địa chỉ: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương (quán Đ) 01 chiếc điện thoại di động iphone 6s màu vàng với giá 600.000 đồng, còn 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6s màu xám do có mật khẩu nên không bán được, S gửi lại quán để nhờ quán chị U lấy lại mật khẩu I. Sau khi bán được điện thoại S đã tiêu sài cá nhân hết.

Quá trình làm việc chị U tự nguyên giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng, số IMEI: 353223102713063, dung lượng 32GB, bên ngoài được ốp bằng nhựa điện thoại trong suốt, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, số IMEI: 353224101308418, dung lượng 32 GB, bên ngoài được ốp bằng nhựa điện thoại trong suốt; anh H1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng – hồng, số IMEI: 359484087769272, dung lượng: 32GB, bên ngoài được ốp bằng nhựa điện thoại trong suốt; N đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, dung lượng 32GB, Số IMEI: 359486087723068, bên ngoài được ốp bằng nhựa điện thoại trong suốt.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49 ngày 13/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản –UBND thành phố C kết luận: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, số IMEI: 359486087723068, dung lượng 32GB, bên trong không lắp sim điện thoại, đã qua sử dụng có giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, số IMEI: 353224101308418, dung lượng 32GB, bên trong không lắp sim điện thoại, đã qua sử dụng có giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, số IMEI: 353223102713063, dung lượng 32GB, bên trong không lắp sim điện thoại, đã qua sử dụng có giá 900.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng - hồng, số IMEI: 359484087769272, dung lượng 32GB, bên trong không lắp sim điện thoại, đã qua sử dụng có giá 900.000 đồng; 04 ốp điện thoại chất liệu: nhựa dẻo, màu trong suốt, đã qua sử dụng có giá 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá là: 3.120.000 đồng.

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thành phố C đã trả lại cho anh Dương Thế D 04 chiếc điện thoại nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Thế D đã nhận lại 04 chiếc điện thoại không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. S đã trả cho anh D số tiền 4.000.000 đồng và chị Đào Thị U số tiền 600.000 đồng; anh N trả cho ông Nguyễn Đình H1 số tiền 1.500.000 đồng; S đã trả lại cho anh N số tiền 1.500.000đ. Anh D, ông H1, anh N và chị U không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS-CL ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Hồng S về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa:

Bị hại là anh D vắng mặt, có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên quan điểm tại cơ quan điều tra, đã bồi thường dân sự xong, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo S thành khẩn khai báo, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về dân sự: Bị cáo không bồi thường trực tiếp cho bị hại, anh N, ông H1, chị U; gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, không đề nghị HĐXX xem xét đối với vấn đề dân sự và số tiền mà bố bị cáo đã bồi thường thay cho bị cáo.

Bố của bị cáo S là ông Nguyễn Văn B xác định đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, anh N, ông H1, chị U, không yêu cầu HĐXX xem xét giải quyết đối với nội dung này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S từ 4-5 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/9/2024.

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ, ngày 27/8/2024, tại nhà anh Dương Thế D, ở: Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Hồng S lợi dụng sơ hở chiếm đoạt của anh D 04 chiếc điện thoại di động (02 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám dung lượng 32G mỗi chiếc trị giá 600.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng, dung lượng 32G trị giá 900.000 đồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s, màu vàng hồng, dung lượng 32G trị giá 900.000 đồng và 04 ốp điện thoại trị giá 120.000 đồng). Tổng giá trị tài sản S chiếm đoạt là 3.120.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo S lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.120.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, giá trị chiếm đoạt là 3.120.000đ, bị cáo không có dự mưu từ trước mà thấy bị hại sơ hở nên mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, nên HĐXX quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có thu nhập, không có tài sản riêng, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Không.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh D đã nhận lại tài sản, và anh N, ông H1, chị U đã nhận lại tiền, đều không yêu cầu bồi thường gì khác, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

[11] Vấn đề khác:

[11.1] Đối với anh N, ông H1 và chị U mua chiếc điện thoại của S nhưng không biết đó là tài sản do S trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.

[11.2] Ông Nguyễn Văn B tự nguyện bồi thường thay bị cáo, không yêu cầu xem xét giải quyết, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[12] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 14/9/2024.
  3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh (01);
  • - VKSND tỉnh Hải Dương (01);
  • - Chi cục THADS TP. Chí Linh (01);
  • - Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân (Công an thành phố Chí Linh) (01);
  • - CQCSĐT-Công an thành phố Chí Linh (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01);
  • - Bị cáo (01); bị hại (01)
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương (01);
  • - Lưu hồ sơ (01);
  • - Lưu TA (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger