TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 10 - 2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thiện và ông Trương Xuân Mâu.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 157/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/11/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2024/QĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Mỹ L, sinh năm 1992; hiện trú tại: Khu công nghiệp S, đường số B, Quận N, thành phố Đ, Đài Loan.
Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người được ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1993; hiện trú tại: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” ngày 18/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B yêu nhau và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Q vào ngày 02/05/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà bố mẹ anh B ở xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Năm 2014 vì kinh tế gia đình khó khăn, anh B nghe theo lời dụ dỗ làm ăn dính dáng đến ma túy và bị bắt đi tù, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 08 năm tù giam. Lúc này chị L vẫn chung sống tại gia đình bố mẹ anh B nuôi hai con nhỏ, chăm sóc bố mẹ chồng. Thời gian anh B đi tù chị có ra vào Trại giam thăm anh. Tuy nhiên đến năm 2018 vì điều kiện gia đình khó khăn, bố mẹ anh B già yếu, tuổi cao không lao động được, chị L đã làm thủ tục đi xuất khẩu lao động để có tiền gửi về cho gia đình nội ngoại nuôi con. Đến cuối năm 2019, anh B ra tù lúc này anh B không có công việc ổn định, cộng với việc anh không chịu làm việc kiếm thêm thu nhập để phụ chị L nuôi dạy con cái. Giữa hai vợ chồng nhiều năm xa cách không tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm, mâu thuẫn hôn nhân ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn. Nhiều lần hai bên cũng tìm cách hàn gắn nhưng không thành và xác định thống nhất phương án ly hôn. Nay chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Văn N, sinh ngày 30/9/2012 và Nguyễn Lê Yến N1, sinh ngày 22/04/2014. Hiện nay cháu N đang sống cùng ông bà nội. Cháu N1 sau khi chị L đi Đài Loan đã gửi cháu về sống cùng ông bà ngoại. Nguyện vọng sau khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Lê Yến N1 cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Văn N cho anh B chăm sóc nuôi dưỡng. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay vì công việc ở xa chị L không thể trực tiếp về Việt Nam để tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa giải quyết theo thời gian đã được ấn định trong thông báo thụ lý vụ án. Chị L xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình giải quyết xét xử vắng mặt chị L.
Tại bản tự khai ngày 26/12/2023, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh và vợ là chị Lê Mỹ L sau quá trình tìm hiểu nhau. Ngày 02/5/2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Q tỉnh Quảng Bình, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà bố mẹ anh ở xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Năm 2014 vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ chồng thất nghiệp không có tiền trang trải cuộc sống gia đình, nghe theo lời dụ dỗ anh B làm ăn dính dáng đến ma túy. Sau khi bị bắt Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch xử phạt 08 năm tù giam. Lúc này chị L vẫn còn ở gia đình bố mẹ anh. Đến năm 2018 chị L không thăm nom anh và chị L làm thủ tục xuất khẩu lao động. Quá trình anh B thụ án, vợ đi xuất khẩu lao động nhiều năm xa cách tình cảm vợ chồng không còn. Khi anh B chấp hành án xong, chị L và anh đã xảy ra nhiều mâu thuẫn về chuyện vợ chồng, con cái, hai bên không tìm được tiếng nói chung dù cho anh B đã cố gắng hàn gắn nhưng đã không còn tình cảm. Nhiều lần anh chị đã thỏa thuận để ly hôn nhưng lại không nhất trí về việc nuôi con. Nay bản thân anh cũng đang làm thủ tục để đi xuất khẩu lao động để trang trải chi phí nuôi bố mẹ già và các con. Hai vợ chồng hiện nay không còn liên lạc quan tâm nhau. Nên anh B đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Lê Mỹ L.
Về con chung: Anh B trình bày vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Văn N, sinh ngày 30/9/2012 và Nguyễn Lê Yến N1, sinh ngày 22/04/2014. Hiện nay cháu N đang sống cùng ông bà nội, cháu N1 sống cùng ông bà ngoại. Nguyện vọng sau khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Lê Yến N1 cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Văn N cho anh B chăm sóc nuôi dưỡng. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh B trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay, vì điều kiện công việc, học ở xa anh B không thể trực tiếp về để tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa giải quyết theo thời gian đã được ấn định trong thông báo thụ lý. Anh xin không tham gia hòa giải và văng mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt anh B.
Cháu Nguyễn Văn N có đơn trình bày ý kiến xin được ở với bố, Nguyễn Lê Yến N1 có đơn trình bày ý kiến xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Mỹ L và bị đơn anh Nguyễn Văn B đều có ý kiến, yêu cầu đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Lê Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn B. Về con chung: xử giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 30/9/2012 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Lê Yến N1, sinh ngày 22/04/2014 cho chị Lê Mỹ L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi hai con trưởng thành, không bên nào đóng góp tiền nuôi con cho bên nào. Các đương sự phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự và nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Mỹ L là công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài, đơn khởi kiện ngày 18/10/2023 có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Đây là vụ án có nguyên đơn là Công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, ngày 02/01/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận được Bản tự khai của bị đơn anh Nguyễn Văn B được chứng thực của Văn phòng C, phường M, quận N, thành phố Hà Nội và ngày 30/01/2024 Tòa án nhận được bản tự khai của nguyên đơn chị Lê Mỹ L được Văn phòng K tại Đ chứng thực. Tại bản tự khai chị L, anh B đều có ý kiến, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay chị L, anh B đều vắng mặt, nhưng có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ các Điều 228, 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị L và bị đơn anh B.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Mỹ L và anh Nguyễn Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện Q vào ngày 02/05/2012. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà bố mẹ anh B ở xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Năm 2014 vì kinh tế gia đình khó khăn, anh B nghe theo lời dụ dỗ làm ăn dính dáng đến ma túy và bị bắt đi tù. Đến năm 2018 vì điều kiện gia đình khó khăn, chị L đã làm thủ tục đi xuất khẩu lao động để có tiền nuôi con. Cuối năm 2019, anh B ra tù, trong thời gian dài vợ chồng sống xa nhau, nên giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẽ lẫn nhau, dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng ngày càng căng thẳng, hai bên không hề liên lạc hỏi han, quan tâm gì đến nhau, ai lo và biết công việc của người đó, hai bên sống ly thân, nên tình cảm vợ chồng không còn. Hiện tại cả chị L và anh B đều khẳng định mâu thuẩn vợ chồng đã căng thẳng, đã sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau, nên tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được. Do đó, chị L làm đơn xin ly hôn anh B, anh B cũng đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn chị L. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của chị Lê Mỹ L xin ly hôn anh Nguyễn Văn B là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Xét ý kiến, yêu cầu của chị L, anh B và các con chung thấy. Hiện nay cháu N đang sống cùng ông bà nội, cháu N1 sống cùng ông bà ngoại đã ổn định cuộc sống. Cháu N cũng có nguyện vọng được sống chung cùng bố và ông bà nội, còn cháu N1 thì có nguyện vọng được sống cùng mẹ và ông bà ngoại. Sau khi ly hôn chị L, anh B đều phải gữi con cho ông bà để đi làm ăn xa, hiện nay chị L đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, còn anh B cũng đang đi làm ăn xa nhà và các con chung đều do ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, chị L và anh B đều thống nhất giao cháu N cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu N1 cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận ý kiến, yêu cầu của chị L, anh B. Giao cháu N1 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu N cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng tiền nuôi con cho bên nào là phù hợp ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến nguyện vọng, điều kiện thực tế của các bên và các con, phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị L và anh B đều trình bày vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; các Điều 469, 474, 475, điểm a khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn B. Hôn nhân của chị Lê Mỹ L và anh Nguyễn Văn B chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Yến N1, sinh ngày 22/04/2014 cho chị Lê Mỹ L được chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Văn N, sinh ngày 30/9/2012 cho anh Nguyễn Văn B được chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005650 ngày 23/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (chị L đã nộp đủ).
Án sơ thẩm xử công khai, chị Lê Mỹ L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình ( P9); - Các đương sự; - TANDCC tại Đà Nẵng; Đã ký - Cục THA dân sự tỉnh Quảng Bình; - UBND xã Xuân Ninh; - Lưu án văn, Hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Viết Hải |
Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Lê Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn B . Hôn nhân của chị Lê Mỹ L và anh Nguyễn Văn B chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
