|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày 25 - 10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Võ Công Đ (tên gọi khác: Không); sinh năm 2001; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Võ Văn T (đã chết); con bà Vũ Thị L, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2020 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000đ, đã chấp hành xong; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay - có mặt.
- Lê Đức T1 (tên gọi khác: Không); sinh năm 2003; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Đức T2 (đã chết); con bà Hồ Thị X, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 13/4/2022 bị Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023 chưa được xoá án tích; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay - có mặt.
- Nguyễn Cảnh N (tên gọi khác: Không); sinh ngày 04/3/2005; tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: K, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Cảnh H (đã chết); con bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/12/2021, bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về trật tự công cộng” với số tiền 375.000 đồng, đã chấp hành xong; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay - Có mặt.
- Hồ Sỹ L2 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1999; tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Sỹ T3 (đã chết); con bà Lê Thị N1, sinh năm 1978; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Ngày 05/7/2023 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” với số tiền 6.000.000 đồng, chưa chấp hành; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 cho đến nay - có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cảnh N: Bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1960 là Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An – có mặt.
Nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1976 – Có mặt.
Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Người chứng kiến: Ông Lê Tiến M, sinh năm 1970 – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 04/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hồ Sỹ L2 đã bắt xe khách từ xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An ra khu vực cầu H thuộc tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy. Khi đến nơi, L2 gặp một người đàn ông lái xe ôm không quen biết rồi mua với người này 10 (Mười) viên ma túy dạng hồng phiến với số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, L2 cất giấu ở trong túi quần của mình và tiếp tục bắt xe khách về nhà mình. Khi về đến nhà, L2 lấy 01 (Một) viên ma túy dạng hồng phiến ra sử dụng. Số ma túy còn lại L2 vẫn để trong một lớp giấy ăn được bọc lại bằng 01 vỏ kẹo ChocoPie rồi cất giấu để sử dụng dần.
Đến tối ngày 04/3/2024, Võ Công Đ, Lê Đức T1 cùng nhau đi đám cưới ở thôn A, xã Q, huyện Q. Tại đây, Đ rủ T1 góp tiền sử dụng ma túy nhưng T1 nói không có tiền. Sau khi ăn đám cưới xong, Đ cùng T1 về nhà Đ (tại thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Lúc này, Đ sử dụng điện thoại gọi điện cho Nguyễn Cảnh N để rủ N góp tiền mua ma túy sử dụng. N đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha của mẹ mình đến nhà N chở N về nhà mình. Do được trao đổi từ trước nên khi vừa vào phòng ngủ của bà Vũ Thị L (mẹ Đ) thì N đưa 200.000 đồng để ở giường ngủ để góp tiền đi mua ma túy. T1 cầm lấy tiền rồi sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn Sim số thuê bao 0898906281 gọi điện đến số thuê bao 0976894680 của Hồ Sỹ L2 để hỏi “Có chó không”, L2 trả lời “Có”. Cùng lúc này, có Lê Văn H1 (sinh năm 2000, trú tại thôn A, xã Q, huyện Q) gọi điện cho T1 để nhờ T1 mua ma túy cho một người bạn (không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) với số tiền 700.000 đồng thì được T1 đồng ý. Hội hỏi T1 về số lượng viên ma túy có thể mua được nên T1 tiếp tục gọi điện cho L2 để hỏi “Bảy trăm nghìn được mấy viên” (ý là mấy viên ma túy dạng hồng phiến) thì L2 trả lời “Được 08 viên”; nghe vậy, T1 gọi lại cho H1 và thông báo cho H1 biết rồi nói “Cho tau mấy viên” thì Hội đồng Ý (Theo lời khai của T1). Hai người thống nhất sẽ giao ma túy tại khu vực cầu H (thuộc xã M, thị xã H). Trao đổi xong thì H1 sử dụng số tài khoản 0353273357 Ngân hàng M1 mang tên LE VAN HOI chuyển đến số tài khoản 0832050790 của Ngân hàng T4 mang tên LE DUC TUAN số tiền 700.000đ. T1 tiếp tục sử dụng tài khoản của mình chuyển số tiền này đến số tài khoản 0976894680 của Ngân hàng H2 mang tên HO SY LOI, lúc này khoảng 22 giờ 40 phút ngày 04/3/2024.
Do thấy đã xin được ma túy nên T1 đưa lại số tiền 200.000 đồng mà N góp cho Đ. Đ đã sử dụng số tiền này nạp vào tài khoản để chơi game hết (nhưng không nói lại với N việc này), còn T1 điều khiển xe máy của bà Vũ Thị L đến khu vực nhà văn hóa (địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện Q) để nhận ma túy. Trong lúc chờ T1 đi mua ma túy, Võ Công Đ lấy 01 vỏ chai nhựa bên trong có nước được đục lỗ và được cắm một chiếc vòi được quấn bằng tờ tiền 1.000đ (Một nghìn đồng) để trên nền nhà, Nguyễn Cảnh N lấy 01 mảnh giấy bạc trong gói thuốc lá của mình ra rồi gấp lại thành máng, dùng bật lửa hơ nóng cho cháy lớp giấy để còn lại lớp bạc để làm công cụ sử dụng ma túy. Còn L2, sau khi thống nhất bán ma túy cho T1 thì lấy 01 viên ma túy dạng hồng phiến trong gói ma túy của mình ra cất giấu để sử dụng dần, 08 viên ma tuý còn lại L2 tiếp tục gói vào vỏ kẹo ChocoPie rồi đi bộ ra nhà văn hóa để giao cho T1.
Sau khi nhận ma túy từ Hồ Sỹ L2, T1 điều khiển xe đến khu vực cầu H, trên đường đi T1 chia số ma túy vừa mua được thành 02 gói, gói thứ nhất có 04 viên được gói trong gói giấy màu trắng T1 để ở cầu H cho bạn của H1 (vì không thấy ai đến nhận nên T1 liên lạc cho H1 thì được Hội chỉ dẫn cứ để ở đó sẽ có người đến lấy), 04 viên còn lại T1 mang về nhà Đ. Khi về đến nhà Đ, T1 đưa số ma túy trên cho Đ, Đ lần lượt để ma túy lên máng rồi Đ và T1 thay nhau hơ lửa cho Đ, T1, N cùng sử dụng hết số ma túy nói trên. Sau khi sử dụng xong ma túy thì Đ đi khỏi nhà còn T1 và N ở lại nhà Đ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/3/2024, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N bị tổ công tác Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Võ Công Đ. Sau khi biết Lê Đức T1 bị bắt thì Hồ Sỹ L2 bỏ trốn. Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra quyết định truy nã đối với L2. Ngày 11/8/2024, Hồ Sỹ L2 đến đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra đã chứng minh vai trò của các bị cáo và phải chịu trách nhiệm hình sự như sau: Bị cáo Võ Công Đ là người khởi xướng, rủ rê các đối tượng sử dụng ma túy, chuẩn bị công cụ (lấy chai nhựa có sẵn nước, vòi hút được quấn từ tờ tiền 1.000 đồng, cho sử dụng nhà nơi mình đang ở để sử dụng ma tuý (cung cấp địa điểm), là người để ma tuý vào máng và sử dụng bật lửa để đốt cho mọi người cùng sử dụng. Bị cáo Lê Đức T1 là người chủ động liên hệ với Hồ Sỹ L2 và đi mua ma tuý (thực hiện hành vi cung cấp ma túy), quá trình sử dụng, cùng với Đ sử dụng bật lửa đốt cho T1, Đ và Nguyễn Cảnh N sử dụng ma tuý. Bị cáo Nguyễn Cảnh N là người đồng ý góp 200.000 đồng để mua ma tuý về cho mọi người cùng sử dụng (sau đó không sử dụng số tiền này nhưng N không biết); là người lấy giấy bạc trong bao thuốc lá, quấn thành máng, dùng bật lửa hơ cháy phần giấy để tạo thành máng cho mọi người sử dụng ma tuý (thực hiện hành vi cung cấp công cụ sử dụng ma tuý). Bị cáo Hồ Sỹ L2 thực hiện hành vi bán ma tuý 08 viên ma túy cho Lê Đức T1 với giá 700.000 đồng.
Kết luận giám định số 308/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 10/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Trên chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, trên thân chai được đục một lỗ hình tròn được nhét 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn gửi đến giám định có bám dính chất ma túy (Methamphetamine).
Biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 05/3/2024 của Trạm y tế xã Quỳnh Văn đối với đối với Võ Công Đ, Nguyễn Cảnh N, Lê Đức T1 thể hiện các đối tượng dương tính chất ma túy Methamphetamine.
Kết luận giám định số 23/KLGĐ ngày 15/7/2024 của Viện Pháptâm thần Bắc miền T, V về tình trạng tâm thần đối với bị cáo Nguyễn Cảnh N kết luận: Tại các thời điểm trước, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định; bị can Nguyễn Cảnh N bị bệnh: Rối loạn nhân cách thực tổn, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F (Rối loạn nhân cách mức độ nhẹ). Nguyễn Cảnh N đủ khả năng nhận thức nhưng hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị can Nguyễn Cảnh N bị bệnh: Rối loạn nhân cách thực tổn, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là: F 07.0 (Rối loạn nhân cách mức độ nhẹ nhưng hành vi phạm tội có yếu tố kích thích.....), Nguyễn Cảnh N hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại phiên tòa các bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKS-QL ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hồ Sỹ L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Võ Công Đ,
- Xử phạt Võ Công Đ từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Lê Đức T1.
- Xử phạt Lê Đức T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Nguyễn Cảnh N.
- Xử phạt Nguyễn Cảnh N từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Hồ Sỹ L2.
- Xử phạt Hồ Sỹ L2 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không phạt tiền bổ sung.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy.
Trả lại cho bà Vũ Thị L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn cam - đen; không có BKS, số máy JA39E-1591494, số khung 253636.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A3S màu đen thu giữ của Võ Công Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A30 màu đen thu giữ của Lê Đức T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel izi S1 màu xanh thu giữ của Nguyễn Cảnh N; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno8 T màu đen thu giữ của Hồ Sỹ L2.
Truy thu và buộc Hồ Sỹ L2 phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội số tiền 700.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; buộc các bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cảnh N trình bày lời bào chữa như sau: Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh N về tội danh tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện; bản thân bị cáo là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 255; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Nguyễn Cảnh N dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà các bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 04/3/2024, tại nhà văn hoá thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Hồ Sỹ L2 đã có hành vi bán trái phép 08 viên ma tuý dạng hồng phiến cho Lê Đức T1 với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T1 chia làm 02 (Hai) gói nhỏ, mỗi gói 04 viên rồi đưa 01 gói đến khu vực cầu H (thuộc phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An) để tại đó cho Lê Văn H1 (vì đã được Hội nhờ mua trước đó), còn lại 04 viên ma tuý T1 đưa về nhà Võ Công Đ (tại thôn A, xã Q, huyện Q). Tại đây, Võ Công Đ, Lê Đức T1 và Nguyễn Cảnh N để cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhau. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/3/2024 Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N bị tổ công tác Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Hành vi mà Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Hành vi mà Hồ Sỹ L2 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã quy kết đối với các bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Võ Công Đ, Lê Đức T1, Hồ Sỹ L2 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Cảnh N nhận thức pháp luật chưa chưa đầy đủ. Các bị cáo nhận thức và biết rõ tác hại của việc sử dụng ma túy đối với con người nhưng đã cố ý mua bán và tổ chức sử dụng trái phép; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Võ Công Đ, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2 phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lê Đức T1 phạm tội khi chưa được xoá án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Võ Công Đ, Nguyễn Cảnh N, Lê Đức T1 đều đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Cảnh N có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Sỹ L2 đã thành khẩn khai báo, đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án có nhiều bị cáo và bị truy tố các tội danh khác nhau nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để lên một mức án nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội.
Vai trò của các bị cáo và phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:
Bị cáo Võ Công Đ là người khởi xướng, rủ rê các đối tượng sử dụng ma túy, chuẩn bị công cụ (lấy chai nhựa có sẵn nước, vòi hút được quấn từ tờ tiền 1.000 đồng) cho sử dụng nhà nơi mình đang ở để sử dụng ma tuý (cung cấp địa điểm) là người để ma tuý vào máng và sử dụng bật lửa để đốt cho mọi người cùng sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/02/2020 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000đ nhưng bị cáo không coi đó là bài học để rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.
Bị cáo Lê Đức T1 là người chủ động liên hệ với Hồ Sỹ L2 và đi mua ma tuý (thực hiện hành vi cung cấp ma túy), quá trình sử dụng, cùng với Đ sử dụng bật lửa đốt cho T1, Đ và Nguyễn Cảnh N sử dụng ma tuý. Ngày 13/4/2022, bị Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023 trở về địa phương, hiện chưa được xoá án tích nhưng bị cáo không coi đó là bài học để rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Cảnh N là người đồng ý góp 200.000 đồng để mua ma tuý về cho mọi người cùng sử dụng (sau đó không sử dụng số tiền này nhưng N không biết); là người lấy giấy bạc trong bao thuốc lá, quấn thành máng, dùng bật lửa hơ cháy phần giấy để tạo thành máng cho mọi người sử dụng ma tuý (thực hiện hành vi cung cấp công cụ sử dụng ma tuý). Bị cáo có nhân thân xấu ngày 24/12/2021 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về trật tự công cộng” với số tiền 375.000đ, nhưng không tu chí rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục phạm tội.
Bị cáo Hồ Sỹ L2 thực hiện hành vi bán ma tuý 08 viên ma túy cho Lê Đức T1 với giá 700.000 đồng. Ngày 05/7/2023 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” với số tiền 6.000.000 đồng chưa chấp hành nhưng không coi đó là bài học rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục phạm tội.
Các bị cáo đều có nhân thân xấu, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cảm hoá, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Các bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung và cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Đối với Lê Văn H1 là người nhờ Lê Đức T1 mua giúp ma tuý. Quá trình điều tra, Hội không thừa nhận việc cho T1 04 viên ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa Lê Đức T1 và Lê Văn H1 nhưng H1 vẫn không thừa nhận. Mặt khác, số ma tuý mà Hội nhờ T1 mua không thu giữ được nên không đủ cơ sở để xử lý đối với Lê Văn H1 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” hay “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Đối với bà Vũ Thị L (mẹ đẻ của Võ Công Đ) là chủ nhà nơi các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha mà T1 sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý; nhưng bà L không biết các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng ngủ và không biết các đối tượng sử dụng xe máy của mình vào mục đích phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với người đàn ông ở phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An; theo lời khai của Lê Văn H1, là người nhờ Hội mua 700.000 đồng tiền ma tuý. Người đàn ông lái xe ôm tại khu vực Cầu H (thuộc xã N, tỉnh Thanh Hóa) đã bán ma tuý cho Hồ Sỹ L2. Quá trình điều tra, không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.
[3] Về vật chứng:
Đối với 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy là vật chứng vụ án không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn cắm trên thân chai nhựa cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, không có BKS, số máy JA39E-1591494, số khung 253636 đã cũ và qua sử dụng đây là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị L không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bà L.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A3S màu đen, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0562.343.789 thu giữ của Võ Công Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxymàu đen, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0898.906.281 thu giữ của Lê Đức T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel izi S1 màu xanh, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0982.581.654 thu giữ của Nguyễn Cảnh N; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno8 T màu đen, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0967.894.680 thu giữ của Hồ Sỹ L2. Đây là công cụ mà các bị cáo dùng để liên lạc việc tổ chức sử dụng ma tuý và mua bán ma tuý nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) mà Hồ Sỹ L2 thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội cần truy thu và buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí: Buộc các bị cáo Võ Công Đ, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ Lợi phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo Lê Đức T1 là đối tượng thuộc hộ cận nghèo năm 2024 nhưng không có đơn xin miễn giảm án phí nên không đủ điều kiện để miễn án phí cho bị cáo. Do đó bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Võ Công Đ,
- Xử phạt Võ Công Đ 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 05/3/2024; không phạt tiền bổ sung.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Lê Đức T1.
- Xử phạt Lê Đức T1 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 05/3/2024; không phạt tiền bổ sung.
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm q, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình đối với Nguyễn Cảnh N.
- Xử phạt Nguyễn Cảnh N 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 05/3/2024; không phạt tiền bổ sung.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Hồ Sỹ L2.
- Xử phạt Hồ Sỹ L2 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 11/8/2024; không phạt tiền bổ sung.
- - Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa trong suốt không có nắp đậy, trên thân chai được đục 1 lỗ tròn.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng (Một nghìn đồng).
- Trả lại cho bà Vũ Thị L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn cam - đen; không có BKS, số máy JA39E-1591494, số khung 253636.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước các điện thoại gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu oppo A3S màu đen, số IMEI 1: 866269042505150, số IMEI 2: 866269042505143, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0562.343.789, mã số SIM: 89840509231625269098 thu giữ của Võ Công Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxymàu đen, số IMEI 1: 354868100951575, số IMEI 2:354869100951573, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0898.906.281, mã số SIM: 8401230812277344 thu giữ của Lê Đức T1; 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel izi S1 màu xanh, số IMEI 1: 352766248190308, số IMEI 2: 352766248190316, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0982.581.654, mã số SIM: 8984048000337683740 thu giữ của Nguyễn Cảnh N; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno8 T màu đen, số IMEI 1: 863126064274136, số IMEI 2: 863126064274128, trong máy lắp thẻ SIM số thuê bao 0967.894.680, mã số SIM: 8984048000919407638 thu giữ của Hồ Sỹ L2.
- Đặc điểm các vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận được lập ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Q với Cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Truy thu và buộc bị cáo Hồ Sỹ L2 nộp lại tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội để sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Võ Công Đ, Nguyễn Cảnh N và Hồ Sỹ L2, Lê Đức T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Võ Công Đức và Đồng phạm
