|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI Bản án số:102/2024/HSST Ngày: 24/10/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quốc Huy
- - Các hội thẩm: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và Ông Phùng Khắc Tuấn
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng -Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây.
- - Đại diện VKSND Thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thị Thúy D - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây,TP Hà Nội, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82 ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ NGUYỄN NGỌC T,sinh năm 1987; ĐKHKTT,và trú tại: Thôn T,xã B,huyện S,TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa:12/12; Quốc tịch; Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Tôn giáo; Không. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962 và bà Đặng Thị Thu H1, sinh năm 1960; Vợ, Trần Thị Thanh H2, sinh năm 1990 con: 03 lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự; Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 05 năm 2024 đến ngày 06 tháng 06 năm 2024 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên toà)
2/ PHẠM VĂN P, sinh năm 1995; ĐKHKTT, và trú tại: Xóm G thôn P, xã P,huyện M,TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch; Việt Nam; Dân tộc; Kinh; Tôn giáo; Không. Con ông; Phạm Văn Đ,sinh năm 1958 và bà Vũ Thị H3,sinh năm 1963; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự; Không.Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31 tháng 05 năm 2024 đến ngày 06 tháng 06 năm 2024 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ( Bị cáo có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Ngọc T (sinh năm 1987; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: thôn T, xã B, huyện S, TP Hà Nội) và Phạm Văn P (sinh năm 1995; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm G, thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội) từng làm nấu ăn (đầu bếp) cho cùng một nhà hàng tại TP Hà Nội nên có mối quen biết nhau. T thường chụp lại các món ăn mà T chế biến rồi sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Cao Thang” đăng ký số thuê bao 0974.349.964 để đăng, chia sẽ những bài viết nội dung thể hiện việc T bán và chế biến món ăn trên mạng xã hội. Khi T cần người phụ giúp trong việc nấu cỗ cho khách T thuê Phạm Văn P.
Ngày 29/5/2024, có người đàn ông giới thiệu tên D1, ở TX S, TP Hà Nội liên hệ với Nguyễn Ngọc T (T không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của người này; sử dụng tài khoản Zalo tên “Gà con”) để trao đổi, đặt mua của Nguyễn Ngọc T 02 con Tê tê có tổng trọng lượng khoảng 08kg đến 09kg và thuê T chế biến thịt Tê tê thành món ăn để D1 tiếp khách tại một Homestay ở xã C, TX S, TP Hà Nội vào ngày 31/05/2024.T liền liên hệ đặt mua 02 con Tê tê có tổng trọng lượng 08kg của người phụ nữ tên T1 và thống nhất giá tiền bán Tê tê là 3.800.000 đồng/01kg. T đồng ý. Sau đó T đã liên hệ, mua số lượng 02 cá thể Tê tê của người phụ nữ tên T1, nhà ở tỉnh Hà Nam, sử dụng số thuê bao 0947.579.461 (T không biết thông tin, địa chỉ cụ thể người phụ nữ này) T được cho số điện thoại trong quá trình T đi nấu cỗ, T không nhớ ai đã cho T số điện thoại của T1. T1 đồng ý và T hẹn T1 cho người chở 02 cá thể Tê tê đến H thuộc xã C, TX S, TP Hà NộiThảnh cho T số điện thoại 0368.689.xxx của anh Nguyễn Thành T2 ( sinh năm 1989, chỗ ởthôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam) làm nghề lái xe Taxi, là người được thuê vận chuyển Tê tê giao cho T, liên hệ với T để hẹn địa điểm giao hàng. Anh T2 chỉ biết người thuê mình là một người phụ nữ tên N, nhà ở tỉnh Hà Nam, sử dụng số thuê bao 0332.609.424 (anh T2 không biết thông tin lai lịch, địa chỉ cụ thể người phụ nữ này), N cho anh Trung liên H4 với số điện thoại 0915.840.xxx của anh Trần Văn Q (sinh năm: 1972; nơi thường trú: xóm E, khu phố P, thị trấn K, huyện K,tỉnh Hưng Yên; chỗ ở;Số A, ngõ A H, phường P, quận H, TP Hà Nội) làm nghề xe ôm, cũng được một người phụ nữ sử dụng số thuê bao 0332.609.424 (anh Q không biết tên tuổi, địa chỉ người phụ nữ này). Sau đó,T thông báo với D1 “Gà con” đến ngày 31/05/2024, T sẽ bán, chế biến thịt 02 con Tê tê có tổng trọng lượng 08kg thành món ăn cho D1.
Tối ngày 30/05/2024, Nguyễn Ngọc T liên hệ rủ Phạm Văn P ngày 31/05/2024 đi cùng với T đến tại một Homestay thuộc xã C, TX S, TP Hà Nội rồi cùng T giết, mổ, chế biến Tê tê thành món ăn cho khách và được P đồng ý.
Ngày 31/5/2024, anh Trần Văn Q được một người phụ nữ sử dụng số thuê bao 0332.609.424 (anh Q không biết tên tuổi, địa chỉ người phụ nữ này) liên hệ để nhận 01 thùng bìa cotton đựng 02 cá thể Tê tê được dán kín từ một người đàn ông (anh Q không biết thông tin, địa chỉ) tại điểm (B) trung chuyển L rồi vận chuyển đến Chùa P1 thuộc phường H, quận H,TP Hà Nội giao cho anh Nguyễn Thành T2. Anh T2 thanh toán số tiền công cho anh Q là 200.000 đồng bằng hình thức trả tiền mặt (N nhờ anh T2 thanh toán hộ). Sau đó, anh Trung chuyển thùng bìa cotton đựng 02 cá thể Tê tê trên vào trong cốp xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, màu bạc, gắn BKS: 90A-041.89 của anh T2 và điều khiển lên khu vực xã C, TX S, TP Hà Nội theo địa chỉ mà Nguyễn Ngọc T gửi.
Khoảng 14 giờ ngày 31/5/2024, Nguyễn Ngọc T thuê anh Nguyễn Nam H5 ( sinh năm 1990, chỗ ở: Phòng A, tòa S202 Vinhomes smart city, phường T, quận N, TP Hà Nội), điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, màu đen, gắn BKS: 34F-013.00 chở T và Phạm Văn P đi từ khu vực quận B, TP Hà Nội lên Homestay A (thuộc thôn Đ, xã C, TX S, TP Hà Nội). Đến nơi, T liên hệ với anh Nguyễn Thành T2 rồi cùng vào Homestay A. Khi vào tới Homestay A, anh T2 mở cốp xe, P mang thùng bìa cotton đựng 02 cá thể Tê tê được dán kín từ trong cốp xe ra và cùng T mang vào theo hướng dẫn của anh Phùng Văn D1( sinh năm 1998,chỗ ở: thôn M, xã V, huyện B, TP Hà Nội), là quản lý Homestay đến khu vực bếp chế biến. Sau khi anh D1 rời đi, T và P mở thùng catton ra kiểm tra xem Tê tê còn sống, chụp ảnh rồi gửi cho khách mua. Khi T đang cùng P chuẩn bị giết mổ, chế biến 02 con Tê tê trên thì bị tổ công tác Công an T4 kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Vật chứng thu giứ:
- + 02 (hai) cá thể động vật Tê tê còn sống (Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã bàn giao cho Trung tâm C1 thực hiện công tác cứu hộ và bảo tồn theo quy định);
- + 01 (một) hộp thùng bìa cotton kích thước 30cm x 30cm (tình trạng đã qua sử dụng);
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xám, nhãn hiệu Iphone, loại máy 12 PRO MAX, số IMEI 356716114240154, bên trong có gắn thẻ sim (điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra) - điện thoại của Nguyễn Ngọc T;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Iphone, loại máy XS MAX, số IMEI 357264093568294, bên trong có gắn thẻ sim (điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra) - Niêm phong - điện thoại của Phạm Văn P.
Ngoài ra cơ quan Công an thị xã T4 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P:không thu giữ gì.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc T còn khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 05/2024, người đàn ông tên D1 liên hệ, đặt mua của Nguyễn Ngọc T 01 cá thể Tê tê có trọng lượng khoảng 05kg đến 06kg và đề nghị T đến TX S, TP Hà Nội để chế biến cá thể Tê tê trên thành món ăn cho D1. Sau đó, T đã liên hệ đặt mua Tê tê của người phụ nữ tên T1 như D1 yêu cầu và được T1 đồng ý, T1 báo với T giá tiền bán Tê tê là 3.800.000 đồng/01kg tính cả công vận chuyển. T thông báo với D1 tiền bán Tê tê là 4.000.000 đồng/01kg, tiền công T chế biến Tê tê thành món ăn là 5.000.000 đồng và chi phí T mua thực phẩm (rau, củ, gia vị) là 1.000.000 đồng thì được D1 đồng ý. D1 hẹn ngày 10/05/2024, T sẽ giao Tê tê, chế biến Tê tê tại một Homestay tại địa bàn xã C,TX S, TP Hà Nội (T không nhớ tên, địa chỉ H) nên T đã thông báo lại với T1 để T1 gửi Tê tê cho T.
Ngày 10/05/2024, anh Nguyễn Thành T2 sau khi được người phụ nữ tên N gọi điện thoại(anh T2 không biết tên tuổi địa chỉ của N) thuê vận chuyển tê tê giao cho T,anh Phạm Văn Q1 (làm nghề xe ôm) cũng được N gọi điện thoại(anh Q1 không biết tên tuổi địa chỉ của N) thuê anh Q1 nhận 01 thùng hàng rồi giao lại cho anh T2 theo số điện thoại mà N đưa cho anh Q1. Anh Trung liên H4 với T, T đồng ý gửi định vị để anh T2 vận chuyển Tê tê đến một Homestay tại địa bàn xã C,TX S, TP Hà Nội (anh T2 không nhớ tên, địa chỉ H).Tại đây,T và P nhận Tê tê từ trong cốp xe của anh T2 và cân cá thể Tê tê được để trong thùng bìa catton có trọng lượng là 5,4kg x 3.800.000 đồng = 20.520.000 đồng, T thông báo với Thảnh việc Tê tê bị hao do Tê tê thải ra phân và nước tiểu nên được T1 đồng ý giảm cho 170.000 đồng nên số tiền T phải thanh toán khi mua Tê tê của Thảnh là 20.350.000 đồng, thanh toán thông qua anh T2, T sử dụng tài khoản số 0011004342918 của T mở tại Ngân hàng V chuyển số tiền 20.350.000 đồng đến tài khoản số [...] của anh T2 mở tại ngân hàng V1.Sau đó, anh Trung liên H4 với N thông báo đã nhận số tiền 20.350.000 đồng thanh toán của T, đồng thời báo tiền cước vận chuyển là 1.700.000 đồng + 250.000 đồng (tiền N nhờ thanh toán cho anh Q1) = 1.950.000 đồng, vậy nên số tiền anh T2 phải chuyển lại cho N là 18.400.000 đồng, N đồng ý và bảo chuyển khoản lại cho N vào tài khoản số 3500119819999 mở tại ngân hàng M1. Vậy nên, anh T2 đã sử dụng tài khoản số [...] của anh T2 mở tại ngân hàng V1 chuyển số tiền 18.400.000 đồng đến tài khoản số 3500119819999 mở tại ngân hàng M1 của anh Đỗ Văn H6 ( sinh năm 1981; chỗ ở: thôn H, xã B, huyện P, TP Hà Nội). Do N đến cửa hàng của anh H6 làm dịch vụ giao dịch chuyển, rút tiền qua tài khoản Ngân hàng. Sau khi nhận được cá thể Tê tê trên,T và P đem Tê tê chế biến thành món ăn cho D1. Đồng thời, T thông báo cho D1 biết Tê tê có trọng lượng là 5,4kg x 4.000.000 đồng = 21.600.000 đồng và 6.000.000 đồng tiền công chế biến, tiền mua thực phẩm (mà trước đó T đã thỏa thuận) tổng là 27.600.000 đồng và được D1 đồng ý. Sau khi T và P chế biến món ăn từ Tê tê xong, D1 cho một người đàn ông (T không biết thông tin,lai lịch) ra thanh toán cho T số tiền 27.600.000 đồng bằng hình thức trả tiền mặt, rồi sau đó T và P bắt xe ra về, T thanh toán cả 02 lượt đi Taxi với số tiền 1.000.000 đồng. T trả cho P bằng hình thức chuyển khoản, T sử dụng tài khoản số 0011004342918 của T mở tại ngân hàng V chuyển số tiền1.000.000 đồng đến tài khoản số 12951747 của P mở tại ngân hàng A.Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1018/QĐ-CQĐT-CSKT ngày 31 tháng 5 năm 2024 tiến hành trưng cầu Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật giám định đối với 02 cá thể động vật (còn sống) thu giữ của Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P.Tại bản Kết luận giám định số 906/STTNSV ngày 04 tháng 6 năm 2024 của V2 kết luận:
“Xác định tên loài cho mẫu vật
02 (hai) cá thể động vật còn sống là loài Tê tê java có tên khoa học là M javanica.
Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật
- Loài Tê tê java (Manis javanica) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/07/2019 của Chính phủ.
- Loài Tê tê java (Manis javanica) có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/09/2019 của Chính phủ.
- Loài Tê tê java (Manis javanica) có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang giã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang giã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C2.”
- Hành vi Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P khai nhận đã mua, bán, giết mổ, chế biến số lượng 01 cá thể Tê tê ngày 10/05/2024. Ngoài lời khai của T và P ra không thu giữ được tang vật do vậy không xác định được có phải là động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đủ căn cứ để xử lý đối với các bị can về hành vi mua, bán, giết mổ, chế biến 01 cá thể Tê tê ngày 10/05/2024.
- Đối với người đàn ông tên D1 giới thiệu ở TX S, TP Hà Nội sử dụng tài khoản Zalo tên “Gà con” là người đã liên hệ đặt Tê tê của Nguyễn Ngọc T. T làm nghề đầu bếp đã nhiều năm nên hay đăng ảnh các món ăn lên trên tài khoản Zalo của T do đó có nhiều khách hàng chủ động liên hệ với T để thuê T nấu ăn. Vào khoảng đầu tháng 05/2024 T thấy có tài khoản Z tên “Gà Con” kết bạn với tài khoản Zalo của T và T đã đồng ý, anh ta giới thiệu với tên là D1, anh D1 đặt vấn đề muốn mua Tê tê và thuê T thịt, chế biến,T đồng ý. D1 chỉ liên hệ với T bằng Zalo chứ không qua điện thoại trực tiếp. Trên bảng thông tin cá nhân của tài khoản Z tên “Gà Con” không hiện thông tin, số điện thoại. T khai không biết tên tuổi, địa chỉ người đàn ông này; việc thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
- Qua tài liệu thu thập được là các bảng kê chi tiết cuộc gọi đến, gọi đi, thông tin chủ thuê bao của số thuê bao “0947.579.461” (Nguyễn Ngọc T khai là số thuê bao của người phụ nữ tên T1) và số thuê bao “0332.609.424” ( anh Nguyễn Thành T2 và anh Trần Văn Q khai là số thuê bao của người phụ nữ tên N) có thể hiện 02 số thuê bao trên nhiều lần liên lạc với nhau, tuy nhiên không rõ cụ thể nội dung liên lạc, thông tin chủ thuê bao đều không trùng khớp với lời khai của các đối tượng, người liên quan trong vụ án. Cụ thể:
+ Đối với người phụ nữ tên T1 sử dụng số thuê bao “0947.579.461” là người đã bán Tê tê cho Nguyễn Ngọc T nhưng T không biết thông tin, địa chỉ cụ thể người phụ nữ này. Cơ quan CSĐT- Công an T4 đã tiến hành xác minh, xác định chủ thông tin đăng ký số thuê bao “0947.579.461” là trường hợp Lê Thị C (sinh ngày 01/01/1937; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: TDP D, phường C, TX D, tỉnh Hà Nam), xác định bà Lê Thị C tuổi cao, gia đình bà C xác định bà C không sử dụng điện thoại và không đăng ký, sử dụng số thuê bao “0947.579.461”. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
+ Đối với người phụ nữ tên N sử dụng số thuê bao “0332.609.424” là người đã thuê anh Trần Văn Q và anh Nguyễn Thành T2 vận chuyển Tê tê cho Nguyễn Ngọc T nhưng anh Q và anh T2 không biết thông tin, địa chỉ cụ thể người phụ nữ này. Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã tiến hành xác minh, xác định chủ thông tin đăng ký số thuê bao “0332.609.424” là trường hợp chị Hàng Thị D2 (sinh ngày 02/09/1987; nơi thường trú: bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La), xác định chị Lê Thị D3 không đăng ký, sử dụng số thuê bao “0332.609.424”. Chị D3 không có mối quan hệ, quen biết và giao dịch gì với trường hợp tên N, nhà ở tỉnh Hà Nguyễn Thành T2 (sinh năm: 1988; chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam, sử dụng số thuê bao 0368.689.366) là người lái taxi và anh Trần Văn Q (sinh năm: 1972; nơi thường trú: xóm E, khu phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở: Số A, ngõ A H, phường P, quận H, TP Hà Nội, sử dụng số thuê bao 0915.840.083) là người chở xe ôm, được người phụ nữ tên N thuê vận chuyển Tê tê cho Nguyễn Ngọc T nhưng anh Q và anh T2 hoàn toàn không biết hàng hóa mà N thuê anh Q và anh T2 vận chuyển là cá thể Tê tê. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đưa ra hình thức xử lý đối với anh Trần Văn Q và anh Nguyễn Thành T2.
- Đối với anh Nguyễn Nam H5 ( sinh năm 1990; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Phòng 1708A, tòa S202 Vinhomes smart city, phường T, quận N, TP Hà Nội), là lái xe dịch vụ và anh Đỗ Văn H6( sinh năm 1981;chỗ ở : thôn H, xã B, huyện P, TP Hà Nội), làm dịch vụ chuyển, rút tiền mà người phụ nữ tên N đã đến làm dịch vụ chuyển, rút tiền mua, bán Tê tê, anh H6 khai không lưu lại thông tin khách hàng đến chuyển, rút tiền và anh H6 không biết gì về người phụ nữ tên N đã đến cửa hàng anh H6 làm dịch vụ chuyển, rút tiền. Anh H5 và anh H6 hoàn toàn không biết và không liên quan gì đến việc T và P đi bán, giết mổ, chế biến Tê tê. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đưa ra hình thức xử lý đối với anh Nguyễn Nam H5 và anh Đỗ Văn H6.
- Đối với anh Phùng Văn D1 ( sinh năm 1998; chỗ ở: thôn M, xã V, huyện B, TP Hà Nội), là quản lý Homestay An G đã cho Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P vận chuyển vào khu vực bếp của H7 để thịt, chế biến Tê tê, anh D1 khai có một người đàn ông đến gặp trực tiếp(anh D1 không biết tên tuổi, địa chỉ người đàn ông này) thuê Homestay An G để tổ chức ăn uống và sẽ có đầu bếp nấu ăn nên anh D1 mới cho T và P đem đồ vào khu vực bếp của H7 để chế biến nhưng anh D1 hoàn toàn không biết và không liên quan gì đến việc T và P bán, giết mổ, chế biến Tê tê cho khách. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an T4 không đưa ra hình thức xử lý đối với anh Phùng Văn D1
Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã có Văn bản số 1067/CV-ĐCSKT ngày 26/08/2024 đến U về việc phối hợp, tuyên truyền, nâng cao nhận thức người dân về các quy định pháp luật về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Đối với 02 cá thể tê tê là vật chứng vụ án, ngày 06 tháng 6 năm 2024, Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã có Quyết định xử lý vật chứng số:1105/QĐ-ĐCSKT đối với 02 cá thể động vật Tê tê (còn sống) là loài Tê tê java có tên khoa học là M javanica bằng hình thức giao cho Trung tâm C1 để chăm sóc, bảo quản và xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 99/ CT - VKS ngày 30/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây,TP Hà Nội đã truy tố Nguyễn Ngọc Thắng và Phạm Văn Phúc về “Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P phạm tội “vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51,58 Điều 65;Bộ luật hình sự:
Xử phạt; Nguyễn Ngọc T 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng.
Xử phạt; Phạm Văn P 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng,
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp thùng bìa cotton kích thước 30cm x 30 cm (tình trạng đã qua sử dụng)
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước;01chiếc điện thoại di động màu xám,nhãn hiệu Iphone,loại máy 12PRO MAX,số IMEI 356716114240154,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng,tình trạng máy không kiểm tra) và 01chiếc điện thoại di động màu đen,nhãn hiệu Iphone, loại máy XSMAX,sỐIMEI 357264093568294,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra)
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:Ngày 31/5/2024, Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P không có chức năng thẩm quyền trong việc săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhưng đã cùng nhau bàn bạc thống nhất để thực hiện việc mua bán, vận chuyển 02 cá thể Tê tê (thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm cấm buôn bán, vận chuyển, nuôi nhốt) tại H thuộc xã C, thị xã S thì bị phát hiện và bắt quả tang. Do đó có đủ sơ cở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P phạm tội “vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự Hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về động vật nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm đến môi trường sinh thái, gây ra hậu quả nghiêm trọng. Do đó cần phải xử lý nghiêm khắc tương xướng với hành vi phạm tội của các bị cáo.Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T là người rủ bị cáo Phạm Văn P đi cùng với T đến tại một H7 rồi cùng T giết,mổ chế biến Tê tê thành món ăn P đồng ý nên T cần phải có mức hình phạt cao hơn với bị cáo P.Đối với bị cáo Phạm Văn P bị cáo T rủ đi giết mổ Tê tê chế biến các nón ăn bị cáo biết là Tê tê mà vẫn cố tình đi cùng bị cáo T giết mổ.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn, khai báo ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng: không có.
Qua xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T.Phạm Văn P có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, với tính chất nhận đạo của pháp luật. Do vậy, HĐXX không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 điều 244 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội có thể bị phạt từ 50.000.000₫ đến 200.000.000đ. Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- -01 hộp thùng bìa cotton kích thước 30cm x 30 cm (tình trạng đã qua sử dụng) không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ;
- -01chiếc điện thoại di động màu xám,nhãn hiệu Iphone,loại máy 12PRO MAX,số IMEI 356716114240154,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra) và 01chiếc điện thoại di động màu đen,nhãn hiệu Iphone,loại máy XSMAX,sốIMEI 357264093568294,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng,tình trạng máy không kiểm tra);Xét thấy, điện thoại là phương tiện các bị cáo liên lạc phạm tội cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
- -Đối với 02 cá thể tê tê là vật chứng vụ án, ngày 06 tháng 6 năm 2024, Cơ quan CSĐT - Công an T4 đã có Quyết định xử lý vật chứng số: 1105/QĐ-ĐCSKT đối với 02 cá thể động vật Tê tê (còn sống) là loài Tê tê java có tên khoa học là M javanica bằng hình thức giao cho Trung tâm C1 để chăm sóc, bảo quản và xử lý theo quy định pháp luật. Xét thấy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T4 đã bàn giao cho Trung tâm C1 theo quy định pháp luật. Do vậy. Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
[3] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.
[5] Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phản ánh cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX thấy không có đấu hiệu vi phạm nên không kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P phạm tội “ Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”
2.Về Điều luật; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt; Nguyễn Ngọc T 15 ( mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T về UBND xã B,huyện S,TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Xử phạt;Phạm Văn P 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo; Phạm Văn P về UBND xã P,huyện M,TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy;01 hộp thùng bìa cotton kích thước 30cm x 30 cm (tình trạng đã qua sử dụng);
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước;01chiếc điện thoại di động màu xám,nhãn hiệu Iphone,loại máy 12PRO MAX,số IMEI 356716114240154,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng,tình trạng máy không kiểm tra) và 01chiếc điện thoại di động màu đen,nhãn hiệu Iphone,loại máy XSMAX,sỐIMEI 357264093568294,bên trong có gắn thẻ sim( điện thoại đã qua sử dụng,tình trạng máy không kiểm tra)(theo bên bản giao nhận vật chứng ngày 30/09/2024 giữa Công an thị xã T4 và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây)
4.Về án phí; Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T và Phạm Văn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự.Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Quốc Huy |
10
11
Bản án số 102/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Số bản án: 102/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp,quý hiếm
