|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2024/HSST
Ngày 22-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Chu Quốc Đạt
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Tuấn A. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Sinh năm 2001;
Nơi cư trú: thôn Tân Lập, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12;
Họ và tên bố: Phạm Văn P (Đã chết); Họ và tên mẹ: Vi Thị T, sinh năm 1980 (Đã chết); Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ nhất trong gia đình; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Tăng Tiến Đ, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn K, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang
- Người làm chứng: Anh Vi Văn C, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Tuấn A và anh Tăng Tiến Đ quen biết, chơi với nhau. Khoảng 16 giờ ngày 06/8/2024, anh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12H1-507.02 đến nhà anh Vi Văn C, sinh năm 1976 ở thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (bác của Tuấn A) để chơi với Tuấn A. Tại đây, anh Đ tháo biển kiểm soát 12H1-507.02 của xe mô tô ra để vệ sinh và chưa lắp vào xe. Trưa ngày 08/08/2024, anh C có mượn xe mô tô của Đ đi mua đồ ăn rồi quay về để xe tại sân, trả lại chìa khóa xe cho Đ (anh C để tại bàn gần đầu giường trong nhà chính). Đến 11 giờ cùng ngày thì anh Đ, Tuấn A, bà M, anh C, P1 ăn cơm xong. Lúc này anh Đ, bà M, P1 vào giường nằm ngủ còn Tuấn A, anh C dọn dẹp dưới bếp. Khi dọn dẹp xong thì Tuấn A lên trên nhà thấy anh Đ đã ngủ và bản thân Tuấn A đang không có tiền tiêu cá nhân nên Tuấn A đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của Đ. Sau đó, Tuấn A xuống bếp hỏi anh C “chìa khóa xe bác vừa đi để đâu” thì anh C trả lời “tao để ở bàn”. Tuấn A quay lên nhà lấy chìa khóa xe mô tô của Đ để trên bàn cạnh giường Đ đang ngủ rồi ra ngoài sân mở khóa điện xe mô tô của Đ nổ máy điều khiển xe đi đến nhà anh Vũ Văn K, sinh năm 1982 ở tổ dân phố số C, thị trấn K làm tin vay anh K 3.600.000 đồng. Số tiền trên Tuấn A đã mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 08/8/2024, sau khi phát hiện tài sản của mình bị trộm cắp, anh Tăng Tiến Đ làm đơn trình báo đến Công an xã H, huyện L. Cùng ngày, Tuấn A đã đầu thú khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Đ đồng thời giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 5 plus màu xanh, có số IMEI: 866763032796076.
Ngày 09/08/2024, Công an xã H đã bàn giao Phạm Tuấn A cùng hồ sơ vụ việc cho cơ quan CSĐT - Công an huyện L để điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, anh Vũ Văn K đã giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không gắn biển số và 01 chìa khóa xe mô tô và 01 căn cước công dân [...] mang tên Phạm Tuấn A.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 76 ngày 09/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND huyện L kết luận: Giá trị 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số 12H1-507.02 đăng ký lần đầu năm 2023, tại thời điểm ngày 08/8/2024 có giá 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số 96/CT- VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt Phạm Tuấn A từ 10 (mười) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, tiền án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa: Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra
tại phiên tòa.
[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trưa ngày 08/8/2024, tại nhà ông Vi Văn C, sinh năm 1976, tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Phạm Tuấn A có hành vi lén lút trộm cắp 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12H1-507.02 (thời điểm bị trộm cắp xe không gắn biển kiểm soát), trị giá 14.000.000 đồng của anh Tăng Tiến Đ.
Hành vi của Phạm Tuấn A đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng ma túy, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, giá trị tài sản trộm cắp tương đối lớn nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.
[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:
Đối với anh Vũ Văn K không biết chiếc xe mô tô mà Phạm Tuấn A để lại làm tin vay tiền là tài sản trộm cắp nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Tuấn A, ngày 04/09/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức tiền phạt là 1.500.000 đồng đối với Tuấn A về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Tuấn A, Tuấn A khai không quen biết, không nhớ đặc điểm nhận dạng của đối tượng này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Tăng Tiến Đ và anh Vũ Văn K không yêu cầu bồi thường dân sự, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển số 12H1-507.02 và 01 chìa khóa xe là tài sản hợp pháp của anh Tăng Tiến Đ, ngày 22/8/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đ. HĐXX xét thấy là phù họp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 5 plus màu xanh, 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Tuấn A không liên quan đến hành vi phạm tội, nay cần trả lại bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bị cáo là hộ cận nghèo tại phiên tòa bị cáo xin được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nên HĐXX miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Phạm Tuấn A từ 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/8/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi 5 plus màu xanh, có số IMEI: 866763032796076; 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Tuấn A. (Theo quyết định chuyển vật chứng số 75/QĐ-VKS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và Biên bản về việc giao nhận vật chứng số 01 ngày 03 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phạm Tuấn A.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 102/2024/HSST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 102/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lục T, A
