Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05-9-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Huỳnh Thị Thuỳ Dương
  2. Ông Thái Bình Hoà

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trương Xuân H, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Tổ H, Ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Đinh Thị Huỳnh N, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Số A, đường P, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trương Xuân H trình bày:

Về hôn nhân: Ông Trương Xuân H và bà Đinh Thị Huỳnh N là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 98/2022, ngày 07/9/2022 tại UBND xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Tổ H, Ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay ông H đang cư trú tại tổ H, Ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn bà Đinh Thị Huỳnh N đang tạm trú tại số A, đường P, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên qua một thời gian chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, có nhiều bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã. Mỗi khi cải vã bà Như T1 tự ý về nhà cha mẹ ruột, mỗi lần bà N bỏ nhà đi thường kéo dài gần 01 tháng. Mỗi lần mâu thuẫn vợ chồng tự hòa giải, tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể giải quyết được, cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng. Từ tháng 8/2023 đến nay ông H và bà N không còn sống chung nhà. Bà N đã tự ý bỏ nhà đi.

Vì vậy, nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên ông Trương Xuân H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Đinh Thị Huỳnh N. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu địa phương, gia đình hai bên hòa giải.

Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà N. Ông H rất mong muốn được nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên do con còn nhỏ và là con gái nên ông H đồng ý giao con cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, ông H thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cụ thể, ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Hiện nay ông H làm công nhân thu nhập khoảng hơn 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trương Xuân H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện nguyên đơn giao nộp các tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân của ông Trương Xuân H, bà Đinh Thị Huỳnh N (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh của con (bản sao); Sao kê tài khoản (bản chính).

2. Bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt) và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Xuân H cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N.

Bị đơn không giao nộp tài liệu chứng cứ.

Tại phiên tòa,

  • Nguyên đơn ông Trương Xuân H vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • Bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.

* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Xuân H đối với bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

+ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 23 tháng 4 năm 2024, ông Trương Xuân H có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bà Đinh Thị Huỳnh N. Từ những nội dung tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[1.2]. Về thẩm quyền: Ông Trương Xuân H khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với bà Đinh Thị Huỳnh N, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại thời điểm thụ lý, bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N đang cư trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự:

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Xuân H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Ông Trương Xuân H và bà Đinh Thị Huỳnh N chung sống với nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 98/2022, ngày 07/9/2022 tại UBND xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa ông H và bà N là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa ông H và bà N là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Nay ông H yêu cầu ly hôn với bà N vì lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.

Qúa trình tham gia tố tụng, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N đều vắng mặt nên được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; điều này cũng chứng tỏ bà N không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc.

Việc ông H và bà N không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Qua xác minh tại địa phương nơi ông H, bà N cư trú cho biết: Ông H và bà N là vợ chồng, quá trình chung sống vợ chồng ông H và bà N có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ vì ông H và bà N không thông báo với địa phương.

Ông H xác định hiện nay không còn tình cảm với bà N, vợ chồng không còn sống chung nên không thể nào có cơ hội hàn gắn. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa ông H và bà N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà N là có cơ sở. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trương Xuân H đối với bà Đinh Thị Huỳnh N.

[2.2]. Về con chung: Qúa trình chung sống ông H và bà N có 01 con chung là: Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022. Hiện nay đang sống cùng bà N. Sau khi ly hôn ông H đồng ý giao con chung cho bà N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Xét thấy, con chung là Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi), để con chung phát triển ổn định, toàn diện và ông H cũng đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, giao con chung là Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 cho bà N trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trương Xuân H đồng ý cấp dưỡng nuôi con Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 mỗi tháng 3.000.000 đồng là phù hợp quy định tại Điều 110, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3]. Tại phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4]. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Ông Trương Xuân H phải chịu 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng án phí đối với cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 600.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Xuân H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn bà Đinh Thị Huỳnh N.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương Xuân H được ly hôn với bà Đinh Thị Huỳnh N.
    2. Về con chung: Giao con chung là Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 cho bà Đinh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Trương Xuân H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Trương Quỳnh A, sinh ngày 07/10/2022 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.

      Ông Trương Xuân H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con nếu cần thiết.

      Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Ông Trương Xuân H phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0002575, ngày 08/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Ông Trương Xuân H còn phải tiếp tục nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - UBND xã B, huyện C, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Xuân H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger