TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2024/HS-ST
Ngày: 30/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 641/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024, đối với các các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Hoàng Thư S), S ngày 13/6/1980; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: 7 C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Huỳnh Văn C và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 26/02/2014, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa nộp tiền án phí và tiền nộp phạt bổ sung số tiền 5.000.000đồng.
Tiền sự: Không.
Về nhân thân:
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.
Có mặt tại phiên tòa
2. Ngô Bảo H1, Sinh ngày 07/3/1973; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: 2 N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Ngô Văn P và bà Trần Kim H2; Vợ: Nguyễn Thị Kim L; Con: có 02 người, sinh năm 1996 và 2009;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 05/5/2022, bị Công an quận B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.00 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đến nay chưa nộp.
Về nhân thân:
- - Ngày 21/4/1994, bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 5 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- - Ngày 07/3/2007, bị Tòa án nhân dân quạn Ninh Kiều xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ.
Có mặt tại phiên tòa
- Bị hại: Bà Huỳnh Thị G (Vắng mặt)
Địa chỉ: 7 khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Minh T1 (Vắng mặt)
Địa chỉ: H N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/03/2024, bị cáo Ngô Bảo H1 điều khiển xe mô tô biển số 65F5-5016 chở Nguyễn Văn H đi tìm tài sản của ai để sơ hở thì lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi trên đường C, phường A, quận N, lúc này Văn H ngồi phía sau phát hiện xe đạp điện nhãn hiệu SONSU 1ST, màu xanh dương của bà Huỳnh Thị G đậu cửa nhà, địa chỉ số H đường C, phường A, quận N không có người trông coi, nên Văn H nói với Bảo H1 ăn chiếc xe này (nghĩa là lấy trộm) nên Bảo H1 dừng xe mô tô lại để Văn H xuống đi bộ vào trong lấy trộm xe đạp điện của bà G rồi mang đến tiệm mua bán xe đạp điện "T1" trên đường N, phường A để bán cho anh Huỳnh Minh T1 với giá 1.300.000 đồng để chia nhau tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Ngày 17/3/2024 sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, bị hại trình báo cơ quan công an. Qua rà soát đối tượng khả nghi trên địa bàn, Công an phường A mời Nguyễn Văn H và Ngô Bảo H1 đến trụ sở làm việc, cả hai đã thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của bà Huỳnh Thị G.
Tang vật thu giữ: 01 xe đạp điện nhãn hiệu SONSU 1ST, màu xanh dương (đã qua sử dụng), 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 65F5 - 5016, nhãn hiệu SIMBA do ông Huỳnh Văn C đứng tên chủ sở hữu.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 823/KL-HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND quận N xác định: Kết luận 01 xe đạp điện nhãn hiệu SONSU 1ST, màu xanh dương, 02 bánh mâm mua vào năm 2021, tình trạng xe bình thường đã qua sử dụng với giá 2.500.0000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn H và Ngô Bảo H1 thừa nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại bà Huỳnh Thị G thì bị phát hiện.
Đối với xe mô tô 01 xe mô tô kiểu dáng Dream biển số 65F5 - 5016, nhân hiệu SIMBA là do ông Huỳnh Văn C đứng tên chủ sở hữu, ông C (là cha ruột của Nguyễn Văn H), việc H sử dụng xe mô tô của ông C đưa cho Ngô Văn H3 điều khiển để lấy trộm tài sản của người khác ông C không biết, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả tài sản cho ông C.
Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu SONSU 1ST, màu xanh dương đã được thu hồi, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả tài sản cho bị hại bà Huỳnh Thị G, bị hại đã nhận lại tài sản. Riêng đối với chiếc mũ bảo hiểm đã qua sử dụng do các bị cáo đã bỏ mất bà G không có yêu cầu bồi thường.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Minh T1 chủ tiệm mua bán xe đạp “Tùng” yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H và Ngô Bảo H1 trả lại số tiền 1.300.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 138/CT-VKSNK ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Ngô Bảo H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Bảo H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Ông Huỳnh Minh T1 có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 1.300.000đồng mà ông đã mua xe từ các bị cáo.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến bào chữa và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập xã hội, trở thành công dân tốt trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Các bị cáo Nguyễn Văn H và Ngô Bảo H1 đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, lấy của bà Huỳnh Thị G 01 chiếc xe đạp diện nhãn hiệu SONSU 1ST, màu xanh dương, 02 bánh mâm; theo Kết luận định giá tài sản số 823/KL-HĐĐG ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận N xác định trị giá 2.500.000đồng. Hành vi các bị cáo thực hiện nêu trên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Trong vụ án, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, Nguyễn Văn H là người chủ động rủ rê, phát hiện tài sản, Ngô Bảo H1 phối hợp thực hiện trộm cắp, cùng nhau bán tài sản trộm cắp được và cùng hưởng lợi. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe nhưng không tích cực lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà đã lợi dụng sơ hở của bị hại để chiếm đoạt tài sản một cách bất hợp pháp. Các bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được Luật hình sự bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H chưa được xóa án tích nên với lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Ngô Bảo H1 có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội sau này. Vì vậy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
[3] Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại bà Huỳnh Thị G và trả lại xe mô tô biển số 65F5-5016 cho ông Huỳnh Văn C là phù hợp nên ghi nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự.
Bà Huỳnh Thị G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với các bị cáo, ông Huỳnh Minh T1 cũng không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Ngô Bảo H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- - Áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Ngô Bảo H1 01 (Một) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- - Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo (Nguyễn Văn H, Ngô Bảo H1) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Mai |
5
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H, Ngô Bảo H1 bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 BLHS
