Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng, ông Nguyễn Sỹ Quân.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 92/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt,

- Bị đơn: Anh Trần Văn Â, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Hiện nay anh  đang lao động tại Đài Loan, nhưng không có địa chỉ cụ thể.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Trần Văn  đăng ký kết hôn vào ngày 13/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ anh  tại thôn B, xã C được 4 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp. Tháng 02/2015, chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và cắt đứt liên lạc với anh  từ thời điểm đó cho đến nay.

Còn anh Â, năm 2017 đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không liên lạc với nhau. Hiện nay, anh  đã sống chung với người khác. Năm 2016, chị H đi lao động tại Hàn Quốc. Trước đây, chị H đã làm đơn yêu cầu ly hôn tuy nhiên chưa được giải quyết. Nay chị H về Việt Nam mục đích là hoàn thiện thủ tục ly hôn với anh Trần Văn  để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản đề ngày 14/5/2024 chị H trình bày chị phải quay lại làm việc tại Hàn Quốc nên có đơn xin xét xử vắng mặt và uỷ quyền lại cho dì ruột của chị H là bà Hoàng Thị Đ; địa chỉ : Số nhà B, ngõ A đường Đ, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giao nhận các văn bản thay chị H.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn  do đang lao động ở Đài Loan nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại buổi làm việc ngày 07/6/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, với sự chứng kiến của đại diện Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, bà Đặng Thị Q, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của anh Trần Văn  đã gọi điện trực tiếp bằng hình ảnh cho anh  để anh  trình bày quan điểm của mình để Tòa án lập biên bản, cụ thể: Về nội dung các yêu cầu khởi kiện của chị H và các văn bản thông báo của Tòa án, thông qua các cuộc gọi với gia đình, anh  đã nắm bắt được đầy đủ. Hiện tại, do đang làm việc ở nước ngoài nên anh  không thể về tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án. Anh  thống nhất ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Đặng Thị Q trực tiếp giao nhận các văn bản, tài liệu của Tòa án và thông báo lại cho anh  biết. Quan điểm của anh  về yêu cầu khởi kiện của chị H như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh  thống nhất như quan điểm của chị H về quá trình và thời gian kết hôn. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh  đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh  và chị H không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn Â.

- Về con chung: Không xem xét giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Anh Trần Văn  hiện đang lao động tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 497/PA08-Đ1 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của phòng PA08 - Công an tỉnh H thể hiện: Anh Trần Văn Â, sinh ngày 15/5/1991; địa chỉ: Xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 20/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 07/6/2024 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Tại cuộc gọi trực tuyến kết nối với bị đơn và có lập biên bản ngày 07/6/2024, thông qua cuộc gọi trực tuyến bị đơn có ý kiến hiện nay đang lao động tại Đài Loan và không có địa chỉ cụ thể. Bị đơn không thể về nước để tham gia giải quyết vụ án và yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn  theo quy định.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị H và anh  tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56/2014 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện C cấp ngày 13/10/2014 nên hôn nhân giữa chị H và anh  là hôn nhân hợp pháp.

Chị H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp. Tháng 02/2015, chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và cắt đứt liên lạc với anh  từ thời điểm đó cho đến nay. Năm 2016, chị H đi lao động tại Hàn Quốc còn anh Â, năm 2017 đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng không liên lạc với nhau. Hiện nay, anh  đã sống chung với người khác. Đối với yêu cầu ly hôn của chị H, anh  đồng ý ly hôn.

Chị H và anh  là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị H và anh  xảy ra mâu thuẫn nhưng giữa chị H và anh  không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị H ly hôn với anh Â.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh  không có con chung nên không xem xét giải quyết

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh  không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết

[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điểu 227; Điều 228; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn Â.
  2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000871 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hoa và anh Trần Văn Ân đăng ký kết hôn vào ngày 13/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ anh Ân tại thôn Bình Minh, xã Cẩm Bình được 4 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng không hòa hợp. Tháng 02/2015, chị Hoa về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và cắt đứt liên lạc với anh Ân từ thời điểm đó cho đến nay.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger