|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Nguyễn Hồng Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn T – sinh năm 1995, tại Kiên Giang
Nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1963; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Nai theo Quyết định số 26/QĐ-TA ngày 22/11/2019, chấp hành xong ngày 09/11/2020 theo quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lí hành chính còn lại số 545/QĐ-TA ngày 28/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/05/2024 (Có mặt)
2/ Phạm Quang V – sinh năm 1995, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Tổ D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm C – sinh năm 1962 và bà Trần Thị Thanh T2 – sinh năm 1964; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/05/2024 (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ ngày 27/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp cùng công an xã T phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và Phạm Quang V đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quán C2 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Tang vật thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 nỏ thủy tinh chứa cặn màu nâu được gắn vào 01 bình nhựa màu trắng, trên bình có 01 nắp nhựa màu xanh, trên nắp bình có gắn 01 ống hút màu trắng; 01 gói nilong màu trắng bị hở 01 đầu có kích thước 01cm x 02cm bám dính tinh thể màu trắng; 01 bật lửa màu trắng; 01 cái nón bảo hiểm màu xanh; 01 điện thoại Vivo màu xanh, 01 điện thoại Iphone 6; 01 xe mô tô biển số: 60B3-065.33 và 01 xe mô tô biển số 60M7-3503.
Tại bản Kết luận giám định số 1128/KL-KTHS ngày 31/05/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu cặn nâu (ký hiệu M) bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng; Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bám dính trong 01 gói nilong màu trắng bị hở một đầu được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”.
Cơ quan điều tra đã làm rõ như sau:
Phạm Quang V và Nguyễn Văn T là bạn bè của nhau, đều nghiện ma tuý. Buổi sáng ngày 27/5/2024, T và V đến uống nước tại quán cà phê Phương A. Tại đây, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T rủ V cùng tham gia thì V đồng ý. T đưa cho V 200.000 đồng để đi mua ma túy về cả hai cùng sử dụng. V đến khu vực nhà thờ B thuộc thị trấn T, huyện T mua ma túy của 01 thanh niên tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi nhận được 01 gói ma túy kích thước 01cm x 02cm, 01 nỏ thủy tinh từ Đệ thì V đưa về cho T. Khi đến nơi, T lấy trên cột cây gỗ trong chòi 01 bình nhựa màu trắng, trên bình có 01 nắp nhựa màu xanh, trên nắp đục sẵn 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút màu trắng xuống rồi gắn nỏ thủy tinh do V đem về vào lỗ còn lại. Sau đó, T lấy ma túy trong gói nilong đổ vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt nóng để cả hai cùng sử dụng. Khi đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang lúc 11 giờ cùng ngày.
Kết quả xét nghiệm ngày 27/05/2024 tại Trạm Y tế xã T thì xác định được T và V đều dương tính với chất ma túy. Tại cơ quan điều tra, T và V thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Theo Cáo trạng số 104/CT-VKSTP-ĐN ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Phạm Quang V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; xử phạt Nguyễn Văn T mức án 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù, xử phạt Phạm Quang V mức án 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 1128/KLGĐ-PC09 (trong đó có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 gói nilong màu trắng bị hở 01 đầu có kích thước 01cm x 02cm), 01 bật lửa màu trắng, 01 cái nón bảo hiểm màu xanh là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh, Kết luận giám định... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Buổi sáng ngày 27/5/2024, tại quán C2 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T, Phạm Quang V đã có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Công an xã T phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang lúc 11 giờ cùng ngày.
Hành vi của Nguyễn Văn T, Phạm Quang V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; ngoài ra xem xét bị cáo V có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tiền sự, nhân thân: Đối với bị cáo T có nhân thân xấu.
[6] Căn cứ quyết định hình phạt:
Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình; bị cáo T từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên sau khi chấp hành xong vẫn tiếp tục tái nghiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau: Bị cáo T tham gia với vai trò chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, cung cấp tiền mua ma túy và thực hành, bị cáo V tham gia với vai trò giúp sức, thực hành đã đi mua ma túy về cùng sử dụng. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo Thanh C1 hơn bị cáo V.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cách ly đối với các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 1128/KLGĐ-PC09 (trong đó có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 gói nilong màu trắng bị hở 01 đầu có kích thước 01cm x 02cm), 01 bật lửa màu trắng, 01 cái nón bảo hiểm màu xanh là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Đ có bán ma túy cho T và V, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên chưa lấy được lời khai, kiến nghị cơ quan cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Đối với bà Ngô Thị Kim P là chủ quán cà phê Phương A, bà P không biết việc T và V tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền quản lý của mình nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo V;
- - Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Quang V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
1.2 Xử phạt bị cáo Phạm Quang V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 1128/KLGĐ-PC09 (trong đó có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 gói nilong màu trắng bị hở 01 đầu có kích thước 01cm x 02cm), 01 bật lửa màu trắng, 01 cái nón bảo hiểm màu xanh.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Quang V mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024. 1.2 Xử phạt bị cáo Phạm Quang V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
