Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:102/2024/HS - ST

Ngày 25 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thu và ông Lê Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoài N, sinh năm 2004 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).

Bị hại: Chị Hà Thị N1, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/03/2024, Nguyễn Hoài N đi đến cửa hàng điện thoại Táo Đẹp địa chỉ số B, ngõ B, đường N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc của chị Hà Thị N1, sinh năm 1988, để bán chiếc điện thoại Iphone XR màu trắng và mua một chiếc điện thoại Iphone 8 Plus cũ đổi lấy tiền chênh lệch từ việc bán điên thoại tiêu xài cá nhân. N và chị N1 thỏa thuận và thống nhất chị N1 mua lại chiếc điện thoại Iphone XR của N với giá 3.000.000đ và bán lại cho N điện thoại Iphone 8 Plus với giá 1.800.000đ, số tiền chênh lệch N nhận được là 1.200.000đ nhưng chưa giao tiền cho nhau. Lúc này, N thấy cửa hàng chỉ có một mình chị N1 trông giữ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max 64GB để sử dụng. N nói với chị N1 “Chị lấy cho em chiếc điện thoai Iphone 11 Pro Max để em xem trước, khoảng vài ngày sau em quay lại mua”. Chị N1 không nghi ngờ gì đã lấy từ trong tủ kính ra chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max 64GB màu đen cho Nam xem. Do chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max hết pin nên N đi vào phía trong khu vực quầy thanh toán để cắm sạc và kiểm tra điện thoại. Khi máy sạc đủ pin, N cầm theo điện thoại đi ra đứng ở bên ngoài khu vực quầy thanh toán còn chị N1 ngồi phía trong. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, N bảo chị N1 đi lấy cho N cốc nước để uống. Chị N1 đồng ý rồi đi vào phía bên trong nhà lấy nước cho N. Khi thấy chị N1 vừa đi khuất tầm nhìn, N đã cầm theo chiếc điện thoại Iphone XR của N và chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max của chị N1 rồi nhanh chóng bỏ chạy ra khỏi cửa hàng để chiếm đoạt chiếc điện thoại đó. Chị N1 mang cốc nước ra không thấy N đâu, nên đã hô hoán để mọi người truy đuổi nhưng không kịp. Sau khi lấy được điện thoại của chị N1, N đến quán điện thoại của anh Phùng Quang M, sinh năm: 1984 ở số F đường N, phường K, thành phố V bán chiếc điện thoại Iphone XR của N với giá 1.800.000₫ và tháo sim số 0776.491.529 lắp sang máy Iphone 11 ProMax để sử dụng. Khi có được tiền, N đến chơi Game tại quán I ở phường L, thành phố V và ngủ qua đêm tại đây. Đến khoảng 13 giờ ngày 17/03/2024, N bị Công an thành phố V phát hiện, bắt giữ. N đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max và số tiền 1.209.000đ.

Cùng ngày 17/03/2024, chị N1 làm đơn trình báo đến Công an phường K, thành phố V về việc chị bị Nguyễn Hoài N chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại Iphone 11 Promax 64GB màu đen như nêu trên. Sau đó, Công an phường K đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 17/03/2024, chị N1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 USB chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của cửa hàng để phục vụ điều tra.

Ngày 22/03/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân thành phố V ra Bản kết luận định giá số 29/KL-HĐĐG kết luận: Giá trị của chiếc điện thoại Iphone 11 Promax 64GB màu đen (đã qua sử dụng) là 7.300.000₫.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã thông báo Kết luận định giá trên cho Nguyễn Hoài N và bị hại là chị Hà Thị N1 biết, bị cáo và bị hại không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì.

Ngày 20/5/2024, Phòng K Công an tỉnh V ra Kết luận giám định số: 1389KL- KTHS, kết luận: “Trích xuất được 06 (sáu) ảnh diễn biến xuất hiện trên 02 (hai) tệp video lưu trong mẫu gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong Phụ lục giám định. Kèm theo kết luận giám định: Một Phụ lục giám định có chữ ký của giám định viên”. Quá trình điều tra, Nguyễn Hoài N thừa nhận người xuất hiện trong đoạn video gửi giám định và thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại của chị Hà Thị N1 chính là N.

Tại Cáo trạng số: 109/CT-VKS TP. VY ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố bị cáo N về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai phù hợp với nội dung cáo trạng.

Người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo N từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về tang vật của vụ án: Đề nghị áp dụng 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại số tiền 1.209.000đ thu giữ của Nguyễn Hoài N nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo N phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/03/2024, tại cửa hàng điện thoại Táo Đẹp của chị Hà Thị N1 địa chỉ số B, ngõ B, đường N, phường K, thành phố V, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chị Hà Thị N1, Nguyễn Hoài N đã thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max 64 GB màu đen (đã cũ, qua sử dụng). Trị giá tài sản mà N chiếm đoạt được theo kết luận định giá là 7.300.000₫.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo N đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự có mức cao nhất của khung hình phạt đến 5 năm tù nên thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng.

Bị cáo là người có sức khỏe, có trình độ văn hóa nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng do thiếu tinh thần tu dưỡng, để có tiền tiêu sài cá nhân và thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện hành vi cướp giật tài sản với lỗi cố ý, do đó cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000đồng. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp và công việc ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, 64GB, màu đen (đã qua sử dụng) là tài sản hợp pháp của chị N1. Ngày 28/03/2024 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố V đã trả lại cho chị N1 là có căn cứ.

Đối với số tiền 1.209.000đ thu giữ của bị cáo là tài sản hợp pháp không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 01 (Một) năm 09 (C) tháng tù, thời hạn tù tính ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/3/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại Nguyễn Hoài N 1.209.000đ (Một triệu hai trăm lẻ chín nghìn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV - QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hoài N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án thành phố Vĩnh Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Minh Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS - ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 102/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài N phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger