Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày 13-12-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.

2. Ông Trần Văn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trọng T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 28/3/1991, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 03809101010968; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng L, sinh năm: 1956; Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1956; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ năm; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án số 72/2011/HSST ngày 30/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • - Tại Bản án số 05/2012/HSST ngày 25/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù của bản án số 72/2011/HSST ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 24 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 27/12/2013.
  • Tại Bản án số 25/2015/HSST ngày 25/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tuyên phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 19/02/2018.

Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ các bản án nêu trên và đã được xóa án tích theo quy định.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 04/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Quốc Q, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 11/11/2004, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quốc N, sinh năm: 1976; Con bà: Lê Thị G, sinh năm: 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 26/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 14/6/1990, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng B, sinh năm: 1967; Con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1966; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Lê Thị Thu T3, sinh năm: 1998, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 26/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Lê Hồng P, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 22/02/1997, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T4, sinh năm: 1968; Con bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1966; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 26/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Dương Văn Q1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 25/01/1995, tại xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn L2, sinh năm: 1968; Con bà: Trần Thị L3, sinh năm: 1968; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 26/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 2003, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trịnh Quang H, sinh năm: 1981, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn A, sinh năm: 2003, địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Anh Trịnh Trọng Q2, sinh năm: 1995, địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Minh C1, sinh năm: 1997, địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  5. Chị Khương Thị Vân G1, sinh ngày: 07/01/2008, địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  6. Anh Trương Ngọc T5, sinh năm: 1998, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  7. Anh Hà Văn L4, sinh năm: 1999, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  8. Anh Trần Văn D, sinh năm: 1997, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  9. Anh Lê Văn T6, sinh năm: 1994, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  10. Anh Hà Văn H1, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  11. Anh Nguyễn Quang H2, sinh năm: 2001, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  12. Anh Trương Ngọc T7, sinh năm: 1993, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  13. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  14. Anh Nguyễn Quốc H3, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  15. Anh Trần Văn H4, sinh năm: 1977, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  16. Anh Trần Quang H5, sinh năm: 2006, địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  17. Anh Trịnh Văn T8, sinh năm: 2004, địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  18. Chị Bùi Thị Hồng V, sinh năm: 1986, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  19. Chị Lương Thị T9, sinh năm: 2004, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  20. Chị Hoàng Thị Bích N1, sinh năm: 2005, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  21. Anh Bàn Văn S, sinh năm: 1989, địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/3/2024, Dương Văn Q1, Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Quốc Q, Lê Hồng P, Nguyễn Trọng T cùng với anh Hà Văn H1 (sinh năm 1990), anh Trương Ngọc T5 (sinh năm 1998), anh Hà Văn L4 (sinh năm 1999), anh Trương Ngọc T7 (sinh năm 1993), anh Lê Văn T6 (sinh năm 1994), anh Nguyễn Quang H2 (sinh năm 2001) đều ở thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa cùng với một số người bạn đi hát karaoke tại phòng VIP 1 quán K ở tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Cùng lúc này, anh Nguyễn Văn A (sinh năm 2003, ở tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện Y) cùng với chị Khương Thị Vân G1 (sinh năm 2008 ở thôn H, xã Đ, huyện Y) và một người tên L5 đang hát tại phòng hát VIP 2 của quán.

Khi T đang đứng ở sân quán hát thì gặp anh Nguyễn Minh C1 (sinh năm 1997, ở tổ dân phố C, thị trấn Q, huyện Y), anh Nguyễn Ngọc C (sinh năm 2003, ở tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y) và anh Trịnh Trọng Q2 (sinh năm 1995, ở tổ dân phố F, thị trấn Q, huyện Y) là bạn của anh Văn A đang đi qua khu vực hành lang vào phòng hát VIP 2 thì giữa T và anh Nguyễn Minh C1 xảy ra xích mích nên T chửi bới anh Nguyễn Minh C1 rồi chạy về phía đầu hành lang lấy 01 chai bia đập về phía nhóm của anh Nguyễn Minh C1 thì trúng vào người anh Nguyễn Minh C1. Anh Nguyễn Minh C1 giơ tay lên đỡ làm chai bia bị văng ra rơi xuống nền nhà vỡ thành nhiều mảnh. Lúc này, anh Nguyễn Minh C1 và T vật giằng nhau tại khu vực hành lang thì được anh Nguyễn Ngọc C và anh T7 can ngăn, đẩy ra nên dừng lại, T đi ra ngoài sân. Sau đó, anh Nguyễn Minh C1 phát hiện bị mất sợi dây chuyền vàng có mặt đá nên có nói bị T cướp sợi dây chuyền vàng nên giữa T và anh Nguyễn Minh C1 xảy ra cãi vã, to tiếng tại khu vực hành lang và khu vực sân của quán hát.

Khi Dương Văn Q1 đi từ phòng hát VIP 1 ra thấy nhóm của mình xảy ra cãi vã, xô xát với nhóm người ở phòng VIP 2 thì quay lại phòng hát nói với mọi người trong phòng. Sau đó, Dương Văn Q1 cùng Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1 và Lê Hồng P đi ra khu vực hành lang. Do bực tức vì anh Nguyễn Minh C1 đổ oan cho T cướp sợi dây chuyền nên Nguyễn Quốc Q lấy 01 chai bia ở đầu hành lang ném về phía nhóm anh Nguyễn Minh C1, anh Nguyễn Ngọc C, anh Văn A, anh Q2 và chị G1 đang đứng ở hành lang trước cửa phòng hát VIP 2 làm vỡ chai bia, nhưng không trúng vào người ai. Thấy vậy, anh Nguyễn Ngọc C, anh Văn A, anh Q2 và chị G1 bỏ chạy vào phòng VIP 2, còn anh Nguyễn Minh C1 và anh L5 đi xuống khu bếp đứng. Khi thấy mọi người chạy vào phòng VIP 2, thì P ra khu vực đầu hành lang lấy 02 chai bia ném vào phòng hát VIP 2; Dương Văn Q1 chạy ra quầy thanh toán lấy bình nước hoa xịt phòng trên bàn lễ tân ném vào phòng VIP 2; T1 lấy 04 chai bia ở hành lang gần phòng hát ném vào trong phòng hát VIP 2, gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc C, anh Văn A và anh Q2 và chị G1.

Sau khi ném một chai bia về phía nhóm người đang đứng ở hành lang trước cửa phòng hát VIP 2 nhưng không trúng ai, thì Nguyễn Quốc Q tiếp tục đi ra đầu hành lang lấy 02 chai bia để định ném tiếp thì thấy anh Văn A chạy từ phòng VIP 2 ra quầy thanh toán nên lùa anh Văn A. Nguyễn Quốc Q ném 02 chai bia về phía anh Văn A nhưng trúng vào cửa phòng ngủ của quán hát ở sau quầy thanh toán làm cửa phòng ngủ bị vỡ. Khi thấy anh Văn A chạy lại bàn uống nước gần quầy thanh toán thì Nguyễn Quốc Q đuổi theo, dùng chai bia đập vào người anh Văn A, T cũng đi lại đe dọa, cùng Nguyễn Quốc Q bắt anh Văn A quỳ xuống, chửi bới anh Văn A, sau đó thì được mọi người can ngăn. Cùng lúc đó, P cũng cầm hai chai bia, T1 xách một két bia ra sân và cầm chai bia trên tay đứng ở sân hỏi xem ai ở trong phòng ném chai bia ra.

Về phía anh Nguyễn Minh C1, anh L5 và những người khác tại phòng VIP 2, sau khi thấy Nguyễn Quốc Q chạy theo đuổi đánh anh Văn A thì họ đi ra hành lang phía sau vào khu bếp đứng trốn. Sau đó, P và anh H1 đi vào khu bếp nói anh Nguyễn Minh C1 ra để nói chuyện nhưng anh Nguyễn Minh C1 không ra. Sau đó, P và anh H1 cũng đi ra ngoài sân. Khi nghe nói có công an đến thì nhóm của T leo tường cổng đi ra bên ngoài. Đến ngày 06/3/2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Dương Văn Q1, Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1 và Lê Hồng P đến Công an thị trấn Q đầu thú.

Hành vi chửi bới, dùng chai bia lùa, ném nhau, vật nhau, đánh nhau của Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q xảy ra tại khu vực hành lang, sân và quầy thanh toán của quán K đã gây náo loạn quán karaoke, gây tâm lý hoang mang, bức xúc cho những người có mặt tại quán, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội, đồng thời gây thương tích cho anh Nguyễn Văn A, làm hỏng các đồ vật trong quán.

Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 có hành vi ném chai bia, bình nước hoa xịt phòng vào trong phòng VIP2 gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc C, anh Nguyễn Văn A, anh Trịnh Trọng Q2, chị Khương Thị Vân G1.

Đối với thương tích của anh Nguyễn Văn A, anh Trịnh Trọng Q2 và chị Khương Thị Vân G1, do thương tích nhẹ, chỉ bị xây xước da, không phải điều trị tại bệnh viện nên họ từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu, đề nghị gì về thương tích.

Anh Nguyễn Ngọc C bị các thương tích sau: 01 vết rách da vùng trên cung mày mắt trái kích thước dài 2cm đã được khâu; 01 vết rách da vùng chẩm lệch phải, kích thước dài 4cm đã được khâu; 01 vết xây xước da bầm tím vùng ngực trái, kích thước 3x3cm; 01 vết xây xước bầm tím vùng vai, cánh tay trái kích thước 2x2cm; Hệ thống vết trầy xước da vùng mu bàn tay trái kích thước 7x4cm; 01 vết xây xước da vùng mu bàn tay phải kích thước 2x2cm. Anh Nguyễn Ngọc C phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Y từ ngày 05/3/2024 đến ngày 12/3/2024. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3096/KL-KTHS ngày 15/5/2024, V1 - Bộ C2, kết luận: Tại thời điểm giám định, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc C là 14%.

Anh Trịnh Quang H là chủ quán K kê khai các tài sản của quán bị hư hỏng gồm: 25 chai bia Thanh Hoa thủy tinh màu xanh, chưa sử dụng; 01 chai bia Sài Gòn L thủy tinh màu nâu, chưa sử dụng; 01 chai nhựa, màu đen, hình trụ tròn, cao 22cm, trên vỏ chai có chữ “nước hoa xịt phòng cao cấp” đã qua sử dụng; 01 tấm nhựa tráng Alumium màu đen đã qua sử dụng, bị gãy vỡ, kích thước 3cm x 10cm; 01 cửa nhựa giả gỗ màu nâu, kích thước 1,9m x 0,74m, đã qua sử dụng. Tông giá trị tài sản bị hư hỏng tại quán hát được định giá là 1.415.000 đồng.

Các bị cáo T, Nguyễn Quốc Q, T1, P và Dương Văn Q1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị hư hỏng trong quán K cho anh Trịnh Quang H (chủ quán karaoke Blue R) và bồi thường tiền mua thuốc cho anh Nguyễn Văn A. Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không có ai yêu cầu bồi thường gì thêm.

Các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 đã tự nguyện thanh toán tiền viện phí và bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Ngọc C. Anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng vụ án, đồ vật đã thu giữ gồm:

  • - 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền bằng đá màu xanh;
  • - 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh, màu xanh, loại vỏ chai bia THABREW, dung tích 330ml, đã qua sử dụng;
  • - 01 chai nhựa màu đen, hình trụ tròn, cao 22cm, trên vỏ chai có chữ “nước hoa xịt phòng cao cấp” nắp bình bị gãy, vỡ, đã qua sử dụng;
  • - 03 mảnh thủy tinh màu xanh (mảnh vỡ từ vỏ chai bia THABREW, không rõ hình dạng, kích thước);
  • - 02 mảnh thủy tinh màu nâu, dạng mảnh vỡ từ vỏ chai bia, không rõ hình dạng kích thước.

Đối với 01 sợi dây chuyền vàng, mặt dây chuyền bằng đá màu xanh là của anh Nguyễn Minh C1 đánh rơi tại sân quán karaoke đã được Cơ quan điều tra trả lại cho anh Nguyễn Minh C1 theo quy định.

Các vật chứng còn lại đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKSYĐ ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định:

Đại diện Viện kiểm sát huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q; thay đổi quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 từ tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự sang tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị về hình phạt như sau:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Trọng T từ 30 đến 33 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Quốc Q từ 27 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh, 01 chai nước hoa xịt phòng bằng nhựa và các mảnh vỡ thủy tinh.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Bị hại là anh Nguyễn Ngọc C khẳng định anh bị thương tích do bị ném trong phòng VIP 2, anh không bị thương tích bên ngoài hành lang. Anh Nguyễn Ngọc C không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 hoàn toàn thừa nhận:

Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 25 phút đến 22 giờ ngày 05/3/2024 tại khu vực hành lang, sân và quầy thanh toán của quán K ở tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện Y, do có xích mích với nhóm thanh niên ở thị trấn Q đang hát tại phòng VIP 2, Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q đã có hành vi chửi bới, dùng chai bia đập, lùa, ném nhóm thanh niên thị trấn Q, đã gây náo loạn quán karaoke, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho những người có mặt tại quán, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đồng thời gây thương tích cho anh Nguyễn Văn A, làm hỏng các đồ vật trong quán. Khi thấy Nguyễn Trọng T có mâu thuẫn với nhóm thanh niên thị trấn Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 đã dùng các chai bia và bình nước hoa xịt phòng ném vào phòng hát VIP2 của quán K gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, dữ liệu trích xuất camera, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh:

Các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q đã có hành vi chửi bới, dùng chai bia đập, lùa, ném nhóm thanh niên thị trấn Q tại khu vực hành lang, sân và quầy thanh toán của quán K gây mất trật tự công cộng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q không gây nên thương tích cho anh Nguyễn Ngọc C, nên các bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích.

Các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 không tham gia chửi bới, lùa, ném chai bia bên ngoài hành lang và sân quán karaoke cùng với Nguyễn Trọng T từ đầu. T1, P và Dương Văn Q1 tham gia sau và chỉ dùng chai bia và bình nước hoa xịt phòng ném vào phòng hát VIP 2 của quán karaoke Blue R gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Hành vi của các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 là hành vi khách quan của tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã thay đổi quyết định truy tố các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 sang tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là phù hợp với hành vi khách quan mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với quy định tại Điều 266 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trất tự trị an xã hội, mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trên địa bàn và gây tâm lý hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân và xâm hại đến sức khỏe của người khác, là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Đối với tội gây rối trật tự công cộng: Nguyễn Trọng T là người gây ra mâu thuẫn, khởi xướng việc đánh nhau và tham gia tích cực nên có vai trò thứ nhất, Nguyễn Quốc Q có vai trò thứ hai. Đối với tội cố ý gây thương tích, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 cùng thực hiện hành vi phạm tội nên giữ vai trò ngang nhau.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T và bị cáo Nguyễn Quốc Q đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho quán karaoke Blue R và anh Nguyễn Văn A. Bị cáo Nguyễn Quốc Q sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú. Vì vậy, bị cáo T và bị cáo Nguyễn Quốc Q được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú. Bị cáo P có ông bà là người có công với cách mạng. Bị cáo Dương Văn Q1 có thời gian tham gia quân ngũ. Vì vậy, các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Trọng T đã bị kết án 03 lần mặc dù đã được xóa án tích, nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 04/7/2024 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.

Các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo này được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo T1, P và Dương Văn Q1 đã tự nguyện thanh toán tiền viện phí và bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Nguyễn Ngọc C. Anh Nguyễn Ngọc C không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án gồm 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh, 01 chai nước hoa xịt phòng bằng nhựa và các mảnh vỡ thủy tinh, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác có liên quan:

Quá trình điều tra xác định ngoài những thiệt hại về tài sản đã nêu trên, anh Trịnh Quang H chủ quán karaoke Blue R còn khai bị mất 01 micro nhãn hiệu Kano màu vàng và bị rách 03 tấm ốp tường. Tuy nhiên, quá trình điều tra không chứng minh được ai đã lấy micro và 03 tấm ốp tường bị rách khi nào, nên không có căn cứ để xác định thiệt hại về các tài sản này là do hành vi của các bị cáo gây nên. Anh Trịnh Quang H không yêu cầu xử lý vấn đề này, nên không xem xét xử lý.

Đối với anh Trịnh Trọng Q2 có hành vi ném 02 chai bia từ trong phòng hát VIP 2 ra để chống trả lại việc ném chai bia của các bị cáo, do tính chất, mức độ hành vi không đáng kể, nên Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Y xử lý vi phạm hành chính đối với anh Q2 là phù hợp.

Đối với việc anh Nguyễn Minh C1 khai báo bị mất sợi dây chuyền khi đánh nhau với T, quá trình điều tra xác định sợi dây chuyền bị rơi ở sân, sau đó được chủ quán giao lại cho Cơ quan điều tra để trả lại cho anh C1, nên không có hành vi chiếm đoạt sợi dây chuyền như anh C1 khai báo.

Đối với anh Hà Văn H1 có hành vi gọi nhóm anh Nguyễn Minh C1 ra sân nói chuyện, tuy nhiên không tham gia việc đánh nhau, nên không xem xét xử lý hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T và Nguyễn Quốc Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 20/3/2024 đến ngày 04/7/2024.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Q 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lê Hồng P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Văn Q1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

  • - 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh, màu xanh, loại vỏ chai bia THABREW, dung tích 330ml, đã qua sử dụng;
  • - 01 chai nhựa màu đen, hình trụ tròn, cao 22cm, trên vỏ chai có chữ “nước hoa xịt phòng cao cấp” nắp bình bị gãy, vỡ, đã qua sử dụng;
  • - 03 mảnh thủy tinh màu xanh (mảnh vỡ từ vỏ chai bia THABREW, không rõ hình dạng, kích thước);
  • - 02 mảnh thủy tinh màu nâu, dạng mảnh vỡ từ vỏ chai bia, không rõ hình dạng kích thước.

Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK07 ngày 14/10/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Trọng T1, Lê Hồng P và Dương Văn Q1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo Nguyễn Trọng T và đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger