|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày: 19-12-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Ông Bá Đình Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, đối với bị cáo:
Lê Hữu T
sinh ngày 24/4/1988 tại tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đăng T1 và bà Trần Thị S; Vợ: Nguyễn Thị Thu H. Con: có 02 người con lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện bị hại: Ông Đào Xuân C, sinh năm 1968 (vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hữu T (sinh năm 1988; cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định) có giấy phép lái xe hạng FC, số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/12/2019, có giá trị đến ngày 13/12/2024, điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 tham gia giao thông là đúng quy định pháp luật.
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 18/5/2023, Lê Hữu T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo rơ mooc biển số 86R-007.94 đi từ huyện P, tỉnh Bình Định chạy theo đường Quốc lộ 1A đi đến huyện C tỉnh Tiền Giang để chở trái cây cho khách. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe chạy đến đoạn đường km 1647 + 700m, Quốc lộ A thuộc thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận trên làn đường dành cho xe ô tô với tốc độ khoảng 40 – 50 km/h (theo lời khai của Lê Hữu T), khi đến đoạn mở dải phân cách thì T phát hiện ông Đào Xuân T2 (sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận) điều khiển xe mô tô biển số 86B1-089.44 chuyển từ phần đường trái chạy qua phần đường phải nên Thời giảm tốc độ xe xuống khoảng 10km/h để nhường cho ông T2 điều khiển xe chạy qua đoạn mở vào phần đường phải, ông T2 điều khiển xe mô tô chạy trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô rồi tiếp tục di chuyển. Sau khi đi qua đoạn đường mở, T điều khiển xe ô tô giữ nguyên làn đường và tăng tốc độ xe chạy lên khoảng 30km/h, lúc này T quan sát thấy ông T2 đang điều khiển xe mô tô chạy trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô gần vạch phân chia làn đường (giữa làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô, mô tô với làn đường hỗn hợp giành cho xe mô tô, xe thô sơ) phía trước cùng chiều cách xe Thời khoảng 30 mét. Thời quan sát kính chiếu hậu bên trái thấy có 01 xe ô tô đang chạy từ phía sau đến và ra tín hiệu (nháy đèn) để xin vượt, nên T bật đèn tín hiệu bên phải cho xe chuyển từ làn đường dành cho xe ô tô qua làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô để nhường làn đường xe ô tô cho xe ô tô xin vượt phía sau chạy qua. Khi xe đang chuyển làn, Thời thiếu chú ý quan sát dẫn đến phần đầu ca bin bên phải xe ô tô 77C-065.50 va chạm với kính chiếu hậu bên trái xe mô tô biển số 86B1-089.44 làm ông T2 cùng xe mô tô té ngã xuống đường, bánh xe sau rơ mooc cán qua người ông T2, lúc này T biết có xảy ra va chạm với phương tiện khác nên điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo rơ mooc biển số 86R-007.94 chạy lên một đoạn khoảng 90 mét thì tấp xe vào lề đường phải dừng lại. Sau đó, T đi đến vị trí va chạm thì thấy ông T2 đã nằm chết trên làn đường hỗn hợp dành cho xe ô tô và xe mô tô nên T nhờ người dân xung quanh đưa T đến Công an huyện B để trình báo sự việc.
Sau tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông hồi 19 giờ 40 phút ngày 18/5/2023 xác định:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc Km 1647 + 700m, đường QL1A là đường có dải phân cách bằng bê tông phân chia đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau. Tai nạn xảy ra ở phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm, là đoạn đường thẳng, mặt đường được kết cấu bằng bê tông nhựa bằng phẳng rộng 9m00, có vạch sơn kẻ phân chia thành ba làn đường dành cho xe ô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe ô tô, xe mô tô rộng 3m50, làn đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ rộng 2m00. Đường nằm trong hiệu lực của biển báo “Bắt đầu khu dân cư” không có đèn chiếu sáng công cộng.
Chọn hướng P - P làm hướng khám nghiệm. Chọn mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm làm chuẩn. Điểm mốc là biển báo hiệu H7/1647 được gắn trên dải phân cách ở giữa đường.
Vết cày không liên tục kéo dài từ làn đường hỗn hợp xe ô tô, xe mô tô kết thúc tại vị trí gác để chân trước bên trái xe mô tô 86B1-089.44 ở trong làn đường xe mô tô, xe thô sơ. Vết cày được ký hiệu số (1), (2) trên sơ đồ có chiều dài 8m90, rộng 1cm. Đầu vết cày số (1) cách mép chuẩn 3m45, cuối vết cày số (2) cách mép chuẩn 1m55.
Tử thi nạn nhân ở tư thế nằm úp; phần đầu thân ở trên làn đường hỗn hợp xe ô tô, xe mô tô hướng ra dải phân cách; bộ phận chân trong làn đường xe mô tô, xe thô sơ hướng vào lề đường. Kết quả đo: phần đầu tử thi được kí hiệu số (3) trên sơ đồ cách mép chuẩn 3m00, cách đầu vết cày số (1) là 5m70, cách cuối vết cày số (2) là 3m30; gót chân trái nạn nhân cách mép chuẩn 1m70.
Vùng dịch nhầy và máu có kích thước (4m00 x 2m30) ở trên làn đường hỗn hợp xe ô tô, xe mô tô tập trung quanh phần đầu thân trên của tử thi. T3 vùng dịch nhầy và máu được ký hiệu số (4) trên sơ đồ cách mép chuẩn 3m75, cách đầu tử thi số (3) là 0m90.
Xe mô tô 86B1-089.44 ngã trong làn đường xe mô tô, xe thô sơ; xe ngã về bên trái xe, phần đầu xe chếch về hướng P, phần đuôi xe chếch về hướng P. Kết quả đo: tâm trục bánh xe trước cách mép chuẩn 2m00; T3 trục bánh xe sau cách mép chuẩn 1m20, cách tâm trục thứ ba bên phải (từ trước ra sau) của rơ mooc 86R-007.94 là 90m30.
Xe ô tô tải đầu kéo 77C-065.50, rơ mooc 86R-007.94 dừng trên làn đường xe mô tô, xe thô sơ, phần bánh xe bên trái đầu kéo và rơ mooc ở trên làn đường hỗ hợp xe ô tô, xe mô tô: đầu xe hướng P, đuôi rơ mooc hướng P. Kết quả đo: T3 trục bánh trước bên phải đầu kéo (thứ nhất từ trước ra sau) cách mép chuẩn 0m25, Tâmtrục bánh sau bên phải đầu kéo (thứ ba) cách mép chuẩn 0m25; tâm trục thứ ba bên phải rơ mooc 86R-007.94 (từ trước ra sau) cách mép chuẩn 0m35. Từ đầu vết cày số (1) đo vào điểm mốc H7/1647 kết quả lần lượt 13m60 + 6m40.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông hồi 10 giờ 00 ngày 19/5/2023 đối với xe mô tô biển số 86B1-089.44 thể hiện: Mặt ngoài ốp bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước có bám dính vùng chất dịch màu nâu đỏ, kích thước (30 x 15)cm; mặt ngoài cạnh ốp trên bên trái đèn chiếu sáng phía trước bên trái có vết chà xước bong tróc sơn, kích thước (10 x 1,5)cm; Bể bung rời kính chiếu hậu bên trái; vị trí bể cách đất 1m20; ½ trên bửnggió trên bên trái có bám dính vùng chất dịch màu nâu đỏ, kích thước (30 x 40)cm; Đầu cần sắt tay lái bên trái có vết chà khuyết kim loại, kích thước (3 x 3) cm, vết chà cách đất 1m12; Cần để chân bên trái phía trước có vết chà khuyết kim loại, kích thước (1 x 1,5)cm; ½ dưới ốp cao su bắt cần để chân có vết chà xước bong tróc cao su kích thước (4 x 1)cm; Gãy rời cần để chân phía sau bên trái; M ngoài hông ba ga sau bên trái có dấu vết chà khuyết kim loại, kích thước (8 x 1)cm.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông hồi 09 giờ 15 ngày 19/5/2023 đối với xe ô tô tải đầu kéo 77C-065.50 kéo rơ mooc 86R-007.94 thể hiện: Vùng vết chà không liên tục kéo dài từ hông dưới bên phải ca bin đầu kéo 77C-065.50 đến ốp trước bên phải phía dưới hướng từ trước ra sau, kích thước (1m60 x 45cm), thấp nhất cách đất 80cm, cao nhất cách đất 1m23; Mặt ngoài ốp bảo vệ đèn tín hiệu phía sau bên phải đầu kéo có vết chà xước bám mạt sơn màu trắng, xanh lá cây kích thước (3,2 x 2)cm. T3 vết cách đất 1m20; Mặt ngoài làn hông bên phải bánh xe ngoài trục thứ hai của rơ mooc (từ trước ra sau) có vùng dấu vết chất màu nâu xám, kích thước (35 x 12)cm; Mặt trước đầu khung cản hông bên phải rơ mooc có bám dính vùng chất dịch, dung mô màu đỏ (nghi là máu và não) kích thước (22 x 58)cm; Mặt ngoài làn hông bánh xe trước trục thứ ba bên phải của rơ mooc tính từ trước ra sau có bám dính chất màu nâu xám kích thước (78 x 25)cm.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 598/KLGĐTT-PC09 ngày 05/6/2023 của Phòng PC 09 - Công an tỉnh B kết luận:
1. Các kết quả chính
- - Phần đầu biến dạng. Vùng từ đỉnh đầu đến xương chính mũi có vết thương toác da để lộ tổ chức dưới da, xương sọ, não, kích thước (20x15)cm; Vỡ toác xương sọ thành nhiều mảnh phức tạp, hộp sọ biến dạng, tổ chức nhu mô não thoát ra ngoài.
- - Vùng từ hố nách phải đến thắt lưng mông phải có mảng hằn trầy xước da nông không đều.
- - Vùng từ bả vai trái đến lưng phải có mảng hằn trầy xước da nông không đều.
- - Gãy kín 1/3 trên xương cánh tay phải
2. Kết luận: Shock chấn thương nặng không hồi phục do: Vỡ toác xương sọ thành nhiều mảnh phức tạp, hộp sọ biến dạng, tổ chức nhu mô não thoát ra ngoài.
- - Nồng độ cồn trong máu 153,27mg/100ml.
Tại Bản kết luận giám định số 613/KLGĐ-KTHS ngày 31/5/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: Giấy phép lái xe số [...], họ tên: Lê Hữu T, ngày sinh: 24/04/1988, nơi cư trú: X. T, H. T, T. B, mang tên nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/12/2019 là thật.
Tại Bản kết luận giám định số 611/KLGĐ-KTHS ngày 23/6/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận:
1. Xe ô tô đầu kéo, biển số: 77C-065.50, kéo theo sơ mi rơ mooc, biển số: 86R-007.94 và xe mô tô, biển số: 86B1-089.44 có va chạm với nhau.
Dấu vết va chạm trên xe ô tô đầu kéo, biển số: 77C-065.50: Trượt mất bụi, mất chất màu xanh (team xe), bám dính chất màu đen mặt ngoài, bên phải cabin đầu kéo, có chiều từ trước ra sau, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô, biển số: 86B1-089.44: Gãy vỡ, rơi khỏi vị trí ban đầu gương chiếu hậu bên trái; trượt xước, bám dính chất màu xanh trên đầu gọng kính chiếu hậu bên trái, có chiều từ sau ra trước, từ dưới lên trên.
2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô đầu kéo, biển số: 77C-065.50, kéo theo sơ mi rơ mooc, biển số: 86R-007.94 và xe mô tô, biển số: 86B1-089.44 ở làn đường hỗn hợp (làn đường rộng 3,5m), thuộc phần đường bên phải, đường Q, theo hướng thành phố P đi thành phố P. (Bút lục số 20-28).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành tạm giữ 01 xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 và 01 xe mô tô biển số 86B1-089.44. Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B đã trả lại xe mô tô biển số 86B1-089.44 cùng các giấy tờ xe cho ông Đào Xuân C (là người đại diện gia đình Đào Xuân T2) và trả lại xe ô tô cùng giấy tờ xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 cho Lê Hữu T là chủ phương tiện.
Về phần bồi thường dân sự: Lê Hữu T đã đến gia đình nạn nhân Đào Xuân T2 để thăm hỏi và bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình là ông Đào Xuân C, sinh năm 1968; cư trú: khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là anh ruột của nạn nhân Đào Xuân T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm và đã có đơn bãi nại. Đối với 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Lê Hữu T được chuyển kèm hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 106/CT-VKS.HBB ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Lê Hữu T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tố luận tội và tranh luận hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất theo cho gia đình bị hại và đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại, xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo T; bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự, lao động chính trong gia đình đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hữu T từ 1 (một) năm đến 1 (một) năm 3 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 (hai) năm đến 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành tạm giữ 01 xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 và 01 xe mô tô biển số 86B1-089.44. Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại xe mô tô biển số 86B1-089.44 cùng các giấy tờ xe cho ông Đào Xuân C (là người đại diện gia đình Đào Xuân T2) và trả lại xe ô tô cùng giấy tờ xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 cho Lê Hữu T (là chủ phương tiện) theo quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét.
Trả lại 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC số: [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/12/2019, có giá trị đến ngày 13/12/2024 của Lê Hữu T đề nghị trả lại cho bị cáo T khi án có hiệu lực pháp luật.
Về phần dân sự: Bị cáo Lê Hữu T đã đến gia đình nạn nhân Đào Xuân T2 để thăm hỏi và bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời đã làm giấy bãi nại và đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Hữu T, cam đoan không khiếu nại, thắc mắc gì về sau đối với vụ tai nạn giao thông nói trên nên đề nghị không xem xét giải quyết.
Bị cáo Lê Hữu T không trình bày lời bào chữa, bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo Lê Hữu T trình bày: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đào Xuân C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị tiếp tục xét xử vì người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện B đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án. Đồng thời đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đào Xuân C.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/5/2023 tại Km 1647 + 700 m, QL A thuộc thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận do Lê Hữu T điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 lưu thông hướng P - P, đến đoạn đường trên chuyển từ làn đường xe ô tô sang làn đường hỗn hợp xe ô tô - xe mô tô không đảm bảo an toàn dẫn đến phần bên phải cabin xe đầu kéo tông vào gương chiếu hậu bên trái xe mô tô biển số 86B1-089.44 do ông Đào Xuân T2 điều khiển chạy phía trước cùng chiều. Hậu quả: ông Đào Xuân T2 tử vong tại hiện trường.
Hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ vi phạm Luật Giao thông đường bộ là chuyển làn đường không đảm bảo an toàn gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo Lê Hữu T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông tại địa phương, đến tính mạng của con người. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chuyển làn xe không quan sát, không đảm bảo an toàn sẽ gây hậu quả nghiêm trọng và hậu quả đã gây tai nạn nghiêm trọng làm 01 người bị chết. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, trong vụ án cũng có một phần của bị hại đó là điều khiển xe mô tô có nồng độ cồn trong máu là 153,27mg/100ml nên khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo T, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, có sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành tạm giữ 01 xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 và 01 xe mô tô biển số 86B1-089.44. Sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại xe mô tô biển số 86B1-089.44 cùng các giấy tờ xe cho ông Đào Xuân C là người đại diện hợp pháp của bị hại và trả lại xe ô tô cùng giấy tờ xe ô tô tải đầu kéo biển số 77C-065.50 kéo sơ mi rơ mooc mang biển số 86R-007.94 cho Lê Hữu T là chủ phương tiện theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/12/2019, có giá trị đến ngày 13/12/2024 của Lê Hữu T sẽ được giao trả lại cho bị cáo khi bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu T 1 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 2 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/12/2023.
Giao bị cáo Lê Hữu T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bình Định nơi bị cáo Lê Hữu T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về tang, vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Trả lại cho bị cáo Lê Hữu T 01 giấy phép lái xe hạng FC số: [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 13/12/2019, có giá trị đến ngày 13/12/2024 của Lê Hữu T.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Hữu T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lê Hữu T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/12/2023). Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Ngọc |
Bản án số 102/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 102/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu T tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ
