Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 9 – 2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.

Các Hội Thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Ngọc Anh.
  2. Bà Trần Thị Út .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thùy L, sinh năm: 1995 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Lê Thùy L (gọi tắt là chị L) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Phạm Văn C tự nguyện kết hôn năm 2013 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau khi kết hôn thì vợ chồng chồng sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống nhưng không thể hàn gắn được nên anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay, chị L nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh C được nữa nên chị L yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn C.

- Về con chung: Chị L khai vợ chồng có 01 cháu tên Phạm Huỳnh N (giới tính: nữ) sinh ngày 08/05/2014, hiện cháu đang sống với chị L, khi ly hôn chị L được cháu Huỳnh N, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai trong thời gian sống chung vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của chị L và Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh C để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn anh Phạm Văn C.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh C, yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung không có không yêu cầu và không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thùy L với anh Phạm Văn C. Cho chị L được ly hôn với anh C.
  • - Về con chung: Giao cháu Phạm Huỳnh N cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị L yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho anh C theo quy định pháp luật.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lê Thúy L1 khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung đối với bị đơn anh Phạm Văn C. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Phạm Văn C có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Phạm Văn C được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Phạm Văn C nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho bị đơn theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thùy L, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2013 chị L và anh C tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Sau thời gian chung sống hạnh phúc anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nên anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay.

Tại phiên toà, chị L cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh C và cho rằng không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với anh C được nữa. Anh C cũng đã được Toà án triệu tập hợp hợp lệ nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt nên Toà án không thể ghi nhận được ý kiến của anh C đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh C thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L và anh C.

[2.2]. Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung cho của chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra cháu Phạm Huỳnh N sống với chị L và anh C, nhưng

từ khi chị L và anh C ly thân đến nay thì cháu N được chị L nuôi dưỡng. Hiện nay chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, tại bản tự khai cháu N cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là chị L. Nên để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý và ổn định cuộc sống cho cháu N cũng như theo nguyện vọng của cháu Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Phạm Huỳnh N cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh C không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Đối với anh C vắng mặt, chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét về tài sản và nợ chung của chị L và anh C, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Lê Thùy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 233 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Lê Thùy L đối với bị đơn anh Phạm Văn C. Cho chị Lê Thùy L được ly hôn với anh Phạm Văn C.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Huỳnh N (giới tính: nữ), sinh ngày 08/5/2014 cho chị Lê Thùy L được tiếp tục nuôi dưỡng, hiện nay cháu N đang sống chung với chị L.
  3. Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Anh C chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên chưa xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định.
  5. Về án phí: Nguyên đơn Lê Thùy L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010158 phiếu lập ngày 18/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - THADS H. Long Mỹ;
  • - UBND xã Thuận Hưng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, yêu cầu nuôi con chung

  • Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị L yêu cầu ly hôn với anh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger