Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 19-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Vô

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Thu T, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1993 tại: Kiên Giang; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ H, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Phòng 2.3 nhà số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1; con bà: Hồ Thị N; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023 (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 09/5/2023, Tổ Công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phối hợp với Công an P, Quận E kiểm tra hành chính tại phòng 2.3 nhà số D T, Phường B, Quận E do Phạm Thị Thu T thuê ở. Tại thời điểm kiểm tra có mặt T và Phạm Thành N1 (bạn trai T) chứng kiến. Đồng thời phát hiện các chất nghi vấn là ma túy, T khai số ma túy trên là của Lương Hoài B và Võ Thị Ngọc H mang đến phòng trọ của T để cùng T sử dụng còn sót lại nên Tổ công tác đã tiến hành đưa T cùng vật chứng về Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình truy xét mời H và B về làm việc. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B tại nhà số E N, Phường A, Quận A không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu T và đối tượng B, H đều khai nhận: Khoảng tháng 5 năm 2021, T thuê căn phòng 2.3 nhà số D T, Phường B, Quận E với giá 7.000.000 đồng/tháng để ở, đến khoảng tháng 03 năm 2023, T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy loại khay, thuốc lắc cùng bạn bè ngoài xã hội, cũng trong khoảng thời gian này, T quen biết với Võ Thị Ngọc H và chồng H tên Lương Hoài B. T biết H, B có sử dụng ma túy. Từ đầu tháng 4 năm 2023, H và B cùng đến phòng trọ của T địa chỉ trên để sử dụng ma túy loại khay, thuốc lắc, bột được 04 lần, gồm 02 lần trong khoảng giữa tháng 4 năm 2023 và đầu tháng 5 năm 2023, nguồn ma túy là do H, B mang đến, số ma túy mà T, H và B cùng sử dụng vào 02 lần trên còn dư ra, chưa sử dụng hết nên T cất giữ tại phòng trọ với mục đích để sử dụng về sau (số ma túy này T khai bị kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vào ngày 09/5/2023); Lần 3 và 4 được tính theo ngày, ngày 7/5/2023 và ngày 08/5/2023. Ban đầu T lấy từ số ma túy dư ra ở lần 1, lần 2 để cả 3 cùng sử dụng, sau đó H mua tiếp của “Kim A” (tên thật Ngô Thị Hồng N2 tại Phòng 2.4 đối diện phòng T) và thanh niên quen biết qua mạng tên “Nguyễn Phước Duy A1". Sau khi sử dụng hết ma túy đã mua đến khoảng hơn 19 giờ ngày 08/5/2023, T kêu H và B đi về do có Phạm Thành N1 là bạn trai của T đến chơi. H và B khai do T kêu H ra về nên dẫn đến H và T cãi nhau nên lúc này H mang toàn bộ số đã sử dụng còn lại vứt vào bồn vệ sinh, xả nước (01 gói ma túy khay) bỏ đi và vứt bỏ vào túi nylon rác mang đi vứt bỏ bên ngoài (thuốc lắc), rồi cùng B ra về. H và B không biết và không liên quan đến số ma túy thu giữ ở nhà T vào sáng ngày 09/5/2023 (số ma túy mà T bị kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ). Toàn bộ các đồ vật, dụng cụ dùng cho việc sử dụng trái phép chất ma túy là do T cung cấp.

Trong 04 lần sử dụng ma túy trên thì H đã chuyển tiền thuê phòng cho T mỗi lần là 4.000.000 đồng vào các ngày: 12/4/2023; 01/5/223; 07/5/2023 và 08/5/2023 qua tài khoản 1030807397-Vietcombank của T.

Trong quá trình tạm giam Phạm Thị Thu T để điều tra, ngày 14/8/2023, N3 tạm giữ Công an Q có Thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q về việc Phạm Thị Thu T có biểu hiện bất thường nghi vấn bệnh tâm thần. Ngày 29/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Phạm Thị Thu T tại Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 6757/KLGĐ ngày 28/9/2023 của Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận:

Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối tượng Phạm Thị Thu T là tâm thần bình thường.

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối tượng Phạm Thị Thu T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi".

Cơ quan điều tra đã tiến hành hỏi cung bị can Phạm Thị Thu T: Thảo không trả lời các câu hỏi do điều tra viên đặt ra, có những biểu hiện, hành động giống như người có bệnh tâm thần, cản trở hoạt động điều tra (đã lập biên bản vụ việc).

Đối với H và B, Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai. Tuy nhiên, H và B đã thay đổi lời khai với nội dung như sau: Cả 04 lần H và B cùng đến phòng ở của T cùng T sử dụng ma túy thì T là người cung cấp ma túy và toàn bộ các dụng cụ dùng sử dụng ma túy (T lấy từ trong phòng của T). Nguồn ma túy T cùng B và H sử dụng, H và B khai không biết T mua của ai. Khoảng 20 giờ ngày 8/5/2023, trước khi ra về H thấy còn 01 gói ma túy khay nên H đem vứt bỏ vào bồn cầu và thuốc lắc (02 viên) H vứt vào sọt rác. Việc H và B thay đổi lời khai, B và H khai do ban đầu khi mới làm việc với cơ quan điều tra, B và H còn say thuốc (sử dụng ma túy) tinh thần chưa ổn định, hoang mang lo sợ nên khai nhận cung cấp ma túy để B và H cùng T sử dụng tại nhà T.

Tiến hành xác minh đối tượng Ngô Thị Hồng N2 (Kim A); sinh năm 1989, tại nơi ở phòng 2,4 nhà 4 T, Phường B, Quận E và địa phương nơi thường trú tại: Tổ I, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai xác định Ngô Thị Hồng N2 không cư trú tại địa phương, không rõ đi đâu. Đối với “Nguyễn Phước Duy A1” hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch.

Do H và B thay đổi lời khai và có mâu thuẫn với lời khai của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành cho H, B đối chất với T. Quá trình đối chất, T im lặng, không khai báo hay có ý kiến gì.

Tại Quyết định số 07/2024/HSST-QĐ ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu điều tra làm rõ: Số ma túy mà bị cáo Phạm Thị Thu T cùng với Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B sử dụng tại phòng trọ của T là do ai cung cấp, có nguồn gốc từ đâu. Vì quá trình điều tra ban đầu, T, Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B đều khai, từ đầu tháng 4 năm 2023, H và B đến phòng trọ do T thuê để cùng sử dụng ma túy được 04 lần, số ma túy là do H và B mang đến. Chính H và B khai ma túy do H và B mua của Kim A (tên thật là Ngô Thị Hồng N2) tại Phòng 2.4 đối diện phòng của T và mua của thanh niên quen biết qua mạng tên “Nguyễn Phước Duy A1”. Qua đó thể hiện H và B có dấu hiệu phạm tội. Tuy nhiên sau đó, H và B thay đổi lời khai và cho rằng số ma túy trong những lần sử dụng tại phòng trọ của bị cáo T đều do T cung cấp.

Vật chứng thu giữ: Gói 1: 01 (một) gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên màu cam (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2402g (không phẩy hai bốn không hai gam), loại MDMA (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói niêm phong số: 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5432g (không phẩy năm bốn ba hai gam) loại Ketamine; 01 (một) gói nylon chứa 04 viên kẹo màu vàng có chữ in HIMALAYA (ký hiệu mẫu m3) có tổng khối lượng 9,3793g (chín phẩy ba bảy chín ba gam), không tìm thấy ma túy (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4), là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1503g (không phẩy một năm không ba gam), loại Ketamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, số Imei: 35673511107570; 01 (một) điện thoại di động, hiệu S, số I: 357260751122820/01; 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) tô sứ màu trắng; 01 (một) muỗng bằng kim loại; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Pham Thi Thuy An; 01 (một) loa (phát nhạc) có chữ H2; số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 4851/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: 03 (ba) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Phạm Thị Thu T và hình dấu Công an P, Quận E, bên trong có:

  • Gói 1: 01 (một) gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên màu cam (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2402g (không phẩy hai bốn không hai gam), loại MDMA;
  • Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5432 g (không phẩy năm bốn ba hai gam) loại Ketamine;
  • 01 (một) gói nylon chứa 04 viên kẹo màu vàng có chữ in HIMALAYA (ký hiệu mẫu m3) có tổng khối lượng 9,3793g (chín phẩy ba bảy chín ba gam), không tìm thấy ma túy;
  • Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4), là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1503g (không phẩy một năm không ba gam), loại Ketamine.

Bản cáo trạng số: 113/CT-VKSQ5 ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Thị Thu T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Thu T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g Khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu T với mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 09 (chín) năm đến 11 (mười một) năm tù; buộc bị cáo T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 16.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Phạm Thị Thu T giữ quyền im lặng, không khai báo, không trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, căn cứ lời khai ban đầu của bị cáo T khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Thị Thu T đã có hành vi cất giữ trái phép các chất ma túy có khối lượng gồm 0,2402g (không phẩy hai bốn không hai gam), loại MDMA và 0,9635g (không phẩy chín sáu ba năm gam) loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, bị cáo Phạm Thị Thu T còn sử dụng nơi ở của mình tại địa chỉ Phòng 2.3 nhà số D T, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (nhà thuê) để cùng với Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B cùng sử dụng chung ma túy 04 lần và mỗi lần sử dụng ma túy bị cáo T đều có thu tiền 4.000.000 đồng từ H và B (T2 lợi 04 lần tổng cộng 16.000.000 đồng). Như vậy hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”, được quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, quá trình điều tra ban đầu bị cáo hợp tác với Cơ quan đều tra, trả lời các câu hỏi của điều tra viên. Nhưng sau đó bị cáo đã giữ quyền im lăng và không trả lời các câu hỏi của Cơ quan điều tra. Do nghi vấn bị cáo T có dấu hiệu của bệnh tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định đưa bị cáo T giám định pháp y tâm thần. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 6757/KLGĐ ngày 28/9/2023 của Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận: Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối tượng Phạm Thị Thu T là tâm thần bình thường. Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối tượng Phạm Thị Thu T đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi". Ngoài ra, trong quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập giám định viên đến phiên tòa để xem xét đánh giá bị cáo T có bị bệnh tâm thần hay không, kết quả giám định viên khẳng định bị cáo T vẫn có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định, trước trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như tại phiên tòa xét xử, bị cáo T có đầy đủ năng lực hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì nghiện ma túy mà bị cáo đã cất giữ các chất ma túy để sử dụng và vì mục đích hưởng lợi mà bị cáo đã sử dụng nơi ở của mình để tổ chức cho các đối tượng nghiện ma túy sử dụng ma túy và có thu tiền.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra ban đầu bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy nhiên sau đó bị cáo giữ quyền im lặng, thiếu sự hợp tác. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo phần nào về sự thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bên cạnh đó bị cáo phạm tội nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có cha là ông Phạm Văn T1 tham gia trong quân đội và được khen thưởng Huy Chương chiến sỹ vẻ vang theo giấy xác nhận ngày 24/02/1987. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội. Đồng thời xem xét tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

[6] Về số tiền thu lợi bất chính: Quá trình điều tra đã xác định được bị cáo T đã hưởng lợi từ việc cho Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B sử dụng ma túy tại nơi ở của T và có thu tiền, mỗi lần sử dụng H và B chuyển tiền trả cho bị cáo T 4.000.000 đồng, 04 lần sử dụng bị cáo T đã hưởng lôi tổng cộng 16.000.000 đồng. Như vậy, cần buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính nêu trên để sung ngân sách nhà nước.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[9] Đối với Võ Thị Ngọc H và Lương Hoài B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo T 04 lần ở phòng của T vào thời gian đã nêu trên. Tuy nhiên B và H khai nguồn ma túy do T cung cấp, đồng thời số ma túy các lần cùng T sử dụng, trước khi ra về H, B đã sử dụng hoặc vứt bỏ hết. Vào thời điểm (khoảng 9 giờ 15 phút ngày 09/5/2023) kiểm tra phòng ở của T phát hiện và thu giữ các chất ma túy, H và B không có mặt tại đây (H, B đã ra về trước đó lúc khoảng 20 giờ ngày 08/5/2023). H và B khai không biết, không liên quan đến số chất ma túy thu giữ trong phòng của T. Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung và xem xét xử lý theo quy định pháp luật đối với H và B, vì theo lời khai ban đầu của H và B thừa nhận ma túy mà bị cáo T cùng sử dụng chung với H và B là do H và B mang đến. Tuy nhiên, sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành lấy lời khai đối với H và B và tiến hành đối chất giữa H, B và bị cáo T, kết quả H và B cho rằng số ma túy mà H và B sử dụng chung với bị cáo T đều do T cung cấp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ cơ sở xử lý hình sự đối với H và B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” cũng như phạm tội khác. Trong giới hạn của việc xét xử quy định tại Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viên kiểm sát nhân dân Q1 đã truy tố ...” Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng Ngô Thị Hồng N2 (Kim A) và “Nguyễn Phước Duy A1” bán ma túy cho nhóm của T, H và B. Hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với Phạm Thành N1 vào ngày 09/05/2023 có đến nhà T chơi. Việc T cùng H, B sử dụng ma túy và số ma túy thu giữ tại nhà T, N1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xử lý đối với N1 là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng:

Gói 1: 01 (một) gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên màu cam (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2402g (không phẩy hai bốn không hai gam), loại MDMA (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói niêm phong số: 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5432g (không phẩy năm bốn ba hai gam) loại Ketamine; 01 (một) gói nylon chứa 04 viên kẹo màu vàng có chữ in HIMALAYA (ký hiệu mẫu m3) có tổng khối lượng 9,3793g (chín phẩy ba bảy chín ba gam), không tìm thấy ma túy (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4), là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1503g (không phẩy một năm không ba gam), loại Ketamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) tô sứ màu trắng; 01 (một) muỗng bằng kim loại; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Pham Thi Thuy A2. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, số Imei: 35673511107570 là tài sản cá nhân của bị cáo T, sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Xét 01 (một) điện thoại di động, hiệu S, số I: 357260751122820/01; 01 (một) loa (phát nhạc) có chữ H2 là tài sản cá nhân của bị cáo T, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo T.

Xét số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo T, sử dụng chơi ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g Khoản 1 Điều 249; điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo Phạm Thị Thu T phải chấp hành là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023.

Căn cứ điểm a, b, c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, b, c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo Phạm Thị Thu T nộp lại số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy: Gói 1: 01 (một) gói nylon chứa 01 mảnh vụn viên màu cam (ký hiệu mẫu m1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2402g (không phẩy hai bốn không hai gam), loại MDMA (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 gói niêm phong số: 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 2: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m2), là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5432g (không phẩy năm bốn ba hai gam) loại Ketamine; 01 (một) gói nylon chứa 04 viên kẹo màu vàng có chữ in HIMALAYA (ký hiệu mẫu m3) có tổng khối lượng 9,3793g (chín phẩy ba bảy chín ba gam), không tìm thấy ma túy (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 2. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); Gói 3: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu m4), là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1503g (không phẩy một năm không ba gam), loại Ketamine (số mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong gói niêm phong số 4851/23 Q5 (1069/23)-gói 1. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D và điều tra viên Võ Chí H1); 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) tô sứ màu trắng; 01 (một) muỗng bằng kim loại; 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có chữ Pham Thi Thuy A2.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, hiệu Iphone, số Imei: 35673511107570; số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Thu T: 01 (một) điện thoại di động, hiệu S, số I: 357260751122820/01; 01 (một) loa (phát nhạc) có chữ H2

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.9061559.00000 của Công an Q tại Kho bạc Nhà nước Q2, do Võ Chí H1 nộp vào ngày 01/11/2023).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án Quận 5;
  • Phòng PV 06 – Công an Tp.HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Thu T-Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger