|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2023/DS-ST
Ngày: 17/11/2023
V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và ông Lê Nhật Hoàng Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2014/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2014 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1965; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1969; Trú tại: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1970; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
Bị đơn:
- Bà Trần Thị K, sinh năm 1956; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Ông Huỳnh Đức T, sinh năm 1978; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Đức B – sinh năm 1958, bà Lê Thị M – sinh năm 1953; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bà Đặng Thị Mỹ L, sinh năm 1979; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Bà Huỳnh Thị T1 - sinh năm 1976, ông Đặng Nguyễn Thái V – sinh năm 1976; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1980; Trú tại: khu phố C, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Ông Huỳnh Thanh T3, sinh năm 1983; Trú tại: khu phố E, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1986; Trú tại: khu phố C, phường P, thành phố T, Phú Yên. Có mặt
- Ông Dương Văn B1, sinh năm 1964; Trú tại: Khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt
- Ông Đinh Văn V1, sinh năm 1970; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt
- Vợ chồng ông Nguyễn Tấn Duy K1 – sinh năm 1981 và bà Cao Thị Tuyết N2 – sinh năm 1983; Trú tại: khu phố A, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Vợ chồng ông Nguyễn Hồ Bảo K2 – sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Lệ T4 – sinh năm 1979; Trú tại: khu phố A, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1966; Trú tại: khu phố C, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1936; Trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T. Vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, biên bản hoà giải và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, đồng nguyên đơn Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N trình bày như sau:
Cha mẹ là ông Huỳnh Đức C (chết năm 2005), bà Lê Thị T5 (chết năm 2007) có tất cả 05 người con gồm: Huỳnh Đức T6 (chết năm 2007), Huỳnh Đức B, Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H và Huỳnh Thị N.
Lúc còn sống cha mẹ khai phá, tạo lập được diện tích đất thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 13, do ông Huỳnh Đức C đứng tên kê khai tại sổ đăng ký ruộng đất với diện tích 950m² (trong đó đất thổ cư 200m², đất trồng cây ăn quả 450m², đất hàng năm khác 300m²). Trên đất cha mẹ xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4, 01 gian nhà bếp, 01 cái giếng và một số cây ăn trái. Ngoài ra cha mẹ không còn tài sản nào khác và khi chết cha mẹ không để lại di chúc.
Khi cha mẹ còn sống thì có kêu cháu nội là Huỳnh Đức T (con trai ông Huỳnh Đức T6) về sống chung với ông bà nội nên sau khi cha mẹ chết thì tài sản do ông T quản lý, sử dụng. Năm 1994, bà Huỳnh Thị N lấy chồng được cha chia cho một phần trong diện tích đất đó để cất nhà ở. Vì vậy nên bản đồ đo đạc năm 2010 thì thửa đất của ông C được ông Huỳnh Đức T kê khai ký hiệu thửa số 34, tờ bản đồ 44, diện tích 1237m²; bà Huỳnh Thị N kê khai ký hiệu thửa 23, tờ bản đồ 44, diện tích 245,8m², loại đất ODT + BHK.
Còn một phần đất trống bên cạnh gian nhà chính thì cha mẹ nói để dưỡng già và sau này bán chia cho 03 con gái là Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N. Tuy nhiên sau khi cha mẹ chết thì năm 2013 bà Trần Thị K (vợ ông T6) và ông Huỳnh Đức T tự ý cho phần đất đó cho bà Huỳnh Thị T1 (con gái ông T6, bà K) cất nhà. Việc này làm 03 chị em gái bức xúc nên khởi kiện, yêu cầu Tòa chia thừa kế đối với toàn bộ diện tích đất hiện nay bị đơn đang quản lý, sử dụng. Đối với phần đất của bà Huỳnh Thị N, ông Huỳnh Đức B, bà Huỳnh Thị S đang quản lý sử dụng thì không yêu cầu phân chia.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Trần Thị K và ông Huỳnh Đức T thống nhất trình bày như sau:
Ông Huỳnh Đức C (chết năm 2005) và bà Lê Thị T5 (chết năm 2007) có tất cả 05 người con như nguyên đơn trình bày là đúng. Khi ông C, bà T5 còn sống đã phân chia đất cho các con cụ thể như sau:
- Chia cho ông Huỳnh Đức T6, bà Trần Thị K phần diện tích đất mà cha mẹ ở khi còn sống, thuộc thửa số 34, tờ bản đồ số 59, địa chỉ tại khu phố B, phường P, thành phố T. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4, 01 nhà bếp, 01 cái giếng và một số cây ăn trái. Khi cha mẹ còn sống đã nói chia cho vợ chồng ông T6 (con trai trưởng) phần đất trên nhưng lúc đó vợ chồng ông T6 đang ở riêng trên phần đất do ông bà mua từ năm 1976 nên chưa về ở chung với cha mẹ. Đến năm 2001, ông C, bà T5 gọi ông T6 về sửa chữa lại nhà để ở cùng với cha mẹ nên vợ chồng ông T6 về sửa lại nhà, sau đó giao cho vợ chồng con trai là Huỳnh Đức T (cháu nội đích tôn) về ở để chăm sóc ông bà nội. Năm 2005 thì ông C chết, đến năm 2007 thì bà T5 chết và sau đó vài tháng thì ông T6 chết. Sau khi cha mẹ chết thì vợ chồng ông T và bà Trần Thị K tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất trên. Sau đó bà K và các con thống nhất cho bà Huỳnh Thị T1 (con gái bà K) một phần trong tổng diện tích đất đó để bà T1 cất nhà ở. Lúc còn sống bà K không nghe cha mẹ nói phần đất bà T1 sử dụng sẽ chia cho 03 cô con gái.
- Chia cho ông Huỳnh Đức B diện tích khoảng 1.000m², bên cạnh phần đất bị đơn đang quản lý.
- Chia cho bà Huỳnh Thị Nhị diện t khoảng 500m², bên cạnh phía sau phần đất bị đơn đang quản lý.
Sau khi được cha mẹ chia đất thì ông B, bà N và ông T6 đã nhận phần của mình và rào ranh giới rõ ràng kiên cố như hiện nay.
- Chia cho bà Huỳnh Thị S diện tích khoảng 600m² tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố T.
Riêng bà Huỳnh Thị H khi cưới chồng về phía chồng nhiều đất nên không được cha mẹ phân chia.
Như vậy, các con đều được cha mẹ chia cho đất và nhận quản lý sử dụng ổn định từ đó đến nay. Quá trình sử dụng đất không ai tranh chấp với ai. Do đó bị đơn yêu cầu giữ nguyên hiện trạng, không phân chia. Trường hợp nếu chia đất của bị đơn thì phải nhập chung đất ông Huỳnh Đức B, bà Huỳnh Thị N và bà Huỳnh Thị S để chia đều hết mới đảm bảo công bằng. Đồng thời phải xem xét công sức của bà Trần Thị K, ông Huỳnh Đức T trong việc chăm sóc, phụng dưỡng, thờ cúng cha mẹ.
Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
Bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V: ông bà nội còn sống đã phân chia phần đất đang tranh chấp cho cha mẹ tôi và cha mẹ giao lại cho em trai Huỳnh Đức T quản lý, sử dụng, đồng thời chia cho tôi diện tích khoản 125m² đất để cất nhà ở. Khi còn sống ông bà nội đã phân chia đất và các con đã nhận phần của mình để quản lý sử dụng ổn định từ đó đến nay nên đề nghị giải quyết theo yêu cầu của bị đơn Trần Thị K.
Ông Huỳnh Đức B, bà Lê Thị M: Lúc còn sống cha mẹ đã phân chia đất cho các con, phần ông T6 là con trai trưởng nên được chia phần đất có gian nhà chính. Còn ông B là con trai thứ nên được cha mẹ chia cho phần đất phía sau. Phần diện tích cha mẹ chia cho ông B khoản 200m², ngang 5m, dài 40m. Sau khi cha mẹ cho đất thì ông mua thêm của bà T7, bà N4 diện tích đất trồng trọt đồng thời khai phá thêm phần đất phía sau và kê khai sinh sống ổn định từ 1981 đến nay. Nay ông không tranh chấp với ai, không yêu cầu chia kỷ phần thừa kế cho ông và cũng không đồng ý nhập đất của ông vào phân chia. Phần đất hiện giờ cháu T1 cất nhà là cha mẹ nói để dưỡng già, sau này bán đi chia cho 03 chị em gái (S, H, N). Nhưng sau khi cha mẹ chết thì bà K cho con gái cất nhà không chia giá trị lại cho 03 cô nên đề nghị Toà án xem xét.
Các ông bà Đặng Thị Mỹ L, Huỳnh Thị T2, Huỳnh Thanh T3, Huỳnh Thị N1: thống nhất theo lời khai của bà Trần Thị K và ông Huỳnh Đức T. Quá trình giải quyết vụ án uỷ quyền cho bà Trần Thị K và ông Huỳnh Đức T đại diện trình bày và tham gia tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án. Đối với kỷ phần thừa kế của ông Huỳnh Đức T6 nếu được chia thì thống nhất giao mẹ Trần Thị K đại diện nhận.
Ông Dương Văn B1: Phần đất của tôi và bà Huỳnh Thị S đã có đầy đủ giấy tờ, không liên quan gì đất của cha mẹ. Đề nghị Toà án xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của các cô S, H, N theo quy định pháp luật.
Bà Nguyễn Thị Q: mẹ bà Huỳnh Thị T8 (chết 1985) lúc còn sống có bán 01 đám rẫy để trồng mỳ cho ông Huỳnh Đức C, diện tích ngang khoản 6,5m – dài 25m.
Bà Nguyễn Thị N5: bà có bán diện tích đất khai hoang phía sau nhà cho Huỳnh Đức B, diện tích ngang khoản 3m, dài khoản 15m.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.
- Đại diện VKSND thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Đối với các đương sự vắng mặt được Toà án triệu tập hợp lệ, có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế đối với diện tích đất do ông Huỳnh Đức T và bà Huỳnh Thị T1 đang sử dụng. Di sản chia thành 05 kỷ phần bằng nhau cho ông Huỳnh Đức T6 (những người thừa kế của ông T6 nhận), bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N và ông Huỳnh Đức T (do có công sức đóng góp sửa chữa tài sản và phụng dưỡng ông bà nội). Ông Huỳnh Đức T, bà Huỳnh Thị T1 đang sử dụng đất và các đồng thừa kế đều đã có nhà ở nên không chia hiện vật mà chia giá trị theo kết quả định giá, ông T, bà T1 có trách nhiệm thanh toán kỷ phần bằng tiền cho các đồng thừa kế.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn là tranh chấp chia di sản thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Đối với các đương sự vắng mặt đã được Toà án triệu tập hợp lệ, có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
[2.1] Căn cứ kết quả xác minh, cung cấp thông tin tại các Văn bản số 22 ngày 11/8/2014, số 15 ngày 01/7/2015, số 80 ngày 05/5/2017 và các biên bản xác minh của Ủy ban nhân dân phường P thì diện tích đất hiện nay bị đơn Trần Thị K, Huỳnh Đức T và bà Huỳnh Thị N đang sử dụng có chung nguồn gốc thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 13, do ông Huỳnh Đức C đứng tên kê khai tại sổ đăng ký ruộng đất với diện tích 950m² (trong đó đất thổ cư 200m², đất trồng cây ăn quả 450m², đất hàng năm khác 300m²). Đến bản đồ năm 1997 thì ông Huỳnh Đức C vẫn đứng tên kê khai, ký hiệu thửa đất số 78, TBĐ 59, diện tích 1441,2m². Đến bản đồ đo đạc năm 2010, thì ông Huỳnh Đức T kê khai với thửa số 34, tờ bản đồ 44, diện tích 1237m²; bà Huỳnh Thị N kê khai với thửa 23, tờ bản đồ 44, diện tích 245,8m², loại đất ODT + BHK, chung nguồn gốc từ thửa 12, tờ bản đồ số 13 do Huỳnh Đức C kê khai năm 1992. Phần diện tích tăng từ 1992 đến 1997 là do ông C cơi nới sang lấn diện tích nghĩa địa.
Đối với diện tích đất hiện nay ông Huỳnh Đức B đang quản lý sử dụng do ông B kê khai tại sổ đăng ký ruộng đất quyển 4, trang 24, số thứ tự 1004 với số thửa 13, tờ bản đồ 13 (năm 1992) có diện tích 840m², gồm 200m² đất thổ, 340m² đất màu, 300m² đất HNK. Bản đồ năm 1997 thì không đo phần đất của ông B. Theo bản đồ năm 2010 thì phần đất ông B ký hiệu là thửa 42, tờ bản đồ 44, diện tích 949,5m² loại đất ODT + BHK. Phần diện tích tăng là do cơi nới sang lấn diện tích nghĩa địa.
Đối với diện tích đất hiện nay bà Huỳnh Thị S và chồng ông Dương Văn B1 đang quản lý sử dụng, theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường P thì thuộc thửa số 47, tờ bản đồ 14, diện tích 435m² đứng tên ông Dương Văn B1 kê khai tại sổ mục kê lập năm 1992, trang 14, quyển số 2. Ông B1 không có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, không được cân đối đất theo Nghị định 64/CP. Về nguồn gốc thì khi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu tiên ông B1 khai do ông được Nhà nước cấp không có giấy tờ gì, sau đó khai do cha mẹ ông cho.
[2.2] Lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đều thống nhất nội dung: Cha mẹ là ông Huỳnh Đức C (chết năm 2005), bà Lê Thị T5 (chết năm 2007) có tất cả 05 người con: Huỳnh Đức T6 (chết năm 2007), Huỳnh Đức B, Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N
Lời khai của các nguyên đơn Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N tại phiên toà thống nhất với lời khai của bị đơn về nội dung: cha mẹ lúc còn sống thì ở tại nhà chính mà hiện nay ông Huỳnh Đức T đang sử dụng. Khi các con lập gia đình ra ở riêng thì cha mẹ có chia cho ông Huỳnh Đức B phần diện tích đất bên cạnh nhà chính, chia cho bà N phần đất nằm phía sau. Việc chia đất thực hiện bằng miệng chứ không có văn bản. Đối với phần nhà chính hiện nay bị đơn đang sử dụng tuy không có văn bản cho nhưng nguyên đơn thừa nhận khi còn sống cha mẹ có nói và các anh em đều hiểu là cho anh T6 là con trai trưởng. Lúc đó vợ chồng ông T6, bà K đang ở trên phần đất khác do vợ chồng ông bà mua nên không ở chung. Năm 2001, cha mẹ có kêu vợ chồng ông T6 về ở chung nên vợ chồng bị đơn về sửa chữa lại nhà rồi giao cho con trai là Huỳnh Đức T (cháu nội đích tôn) ở, chăm sóc ông bà nội. Việc phân chia đất khi đó và việc ông T6 về sửa chữa nhà ở, sau này ông T tiếp tục ở trên nhà đất đó thì không có ai cản trở, tranh chấp. Năm 2010, khi đo đạc bản đồ hiện trạng thì bà N, ông T, ông B đã xác định ranh giới theo hiện trạng sử dụng của mỗi bên và kê khai đối với phần đất của mình, không tranh chấp khiếu nại gì. Nhưng tranh chấp chỉ phát sinh khi bà K giao một phần diện tích đất cho con gái là bà Huỳnh Thị Thanh c nhà ở. Các bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N và ông Huỳnh Đức B cùng thống nhất khai phần diện tích đất này cha mẹ còn sống nói để dưỡng già, sau này có bán thì chia cho ba con gái. Năm 2013, nếu bà K chia cho ba chị em mỗi người 2 triệu đồng như đã hứa thì các nguyên đơn đồng ý nhận và không có việc khởi kiện.
Như vậy việc cha mẹ chia đất cho ông Huỳnh Đức B, bà Huỳnh Thị N và ông Huỳnh Đức T6 đều không có văn bản cho của cha mẹ. Đối với Đơn xin xác nhận đất nhà ở của ông Đinh Văn V1, bà Huỳnh Thị N được lập năm 2004 (sau thời điểm được cho đất), không có chữ ký của cha mẹ nhưng được tất cả các anh chị em cùng thống nhất ký tên xác nhận không có tranh chấp. Phần đất ông B sau khi được cha mẹ cho đã được ông B rào dậu, phân chia ranh giới rõ ràng và kê khai. Ông Huỳnh Đức B cũng thừa nhận cha mẹ đã phân chia đất cho các con, trong đó ông T6 là con trai trưởng nên nhận phần nhà chính, ông B là con trai thứ nên nhận phần đất phía sau, nay ông đã nhận đất nên không còn liên quan gì nữa và cũng không tranh chấp gì với ai. Tại thời điểm đo đạc bản đồ năm 2010, thì ông Huỳnh Đức T kê khai với thửa số 34, tờ bản đồ 44, diện tích 1237m²; bà Huỳnh Thị N kê khai với thửa 23, tờ bản đồ 44, diện tích 245,8m², loại đất ODT + BHK, chung nguồn gốc từ thửa 12, tờ bản đồ số 13 do Huỳnh Đức C kê khai năm 1992. Bà N thừa nhận khi đo đạc, bà và ông T có chỉ dẫn ranh giới để kê khai đo đạc phần đất của mình, không có tranh chấp.
Đối với phần đất của bà Huỳnh Thị S, tại phiên toà bà Huỳnh Thị S và các nguyên đơn thống nhất trình bày trước 1975 cha mẹ có xuống khai hoang làm rẫy trồng sắn mì, sau 1975 thì bỏ không sử dụng nữa. Đến năm 1986 thì vợ chồng bà S làm đơn xin Ủy ban nhân dân phường P cấp đất và được ghi tên vào sổ mục kê. Hiện nay bà S đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.3] Như vậy, có cơ sở xác định phần đất của các ông bà T6, B, N, S đang sử dụng đều có nguồn gốc do cha mẹ khai phá và giao lại cho các con sử dụng. Tuy không có di chúc phân chia nhưng thực tế các con đều đã nhận phần đất của mình để sử dụng ổn định từ đó đến nay và đăng ký kê khai với cơ quan nhà nước. Quá trình các bên xây dựng nhà ở kiên cố trên đất không ai tranh chấp. Khi bà S chuyển nhượng đất cho người khác và khi bà N cất nhà cấp 3 vào năm 2021 phía bị đơn cũng không cản trở hay tranh chấp. Phần nhà chính ông T đang ở các nguyên đơn cũng thừa nhận khi còn sống cha mẹ đã kêu ông T6 là con trai trưởng về để giao ở. Quá trình sử dụng từ đó đến nay các bà không tranh chấp. Và nếu bà K chia cho mỗi chị em gái 2 triệu đồng vào năm 2013 thì các bà cũng không khởi kiện. Phần ông B cũng có lời khai cho rằng cha mẹ đã phân chia đất cho các con, trong đó có phần của ông và ông T6, nay ông đã nhận đất nên không còn liên quan gì nữa và cũng không tranh chấp gì với ai. Bà Trần Thị K cũng thống nhất nếu không phân chia phần đất của mình thì bà cũng không tranh chấp đất ông B, bà N, bà S. Đối với bà Huỳnh Thị H không được cha mẹ chia đất nhưng cũng có ý kiến không tranh chấp yêu cầu phân chia phần đất của bà N, bà S, ông B. Do đó, có cơ sở chấp nhận các con đã được cha mẹ phân chia đất, dù không có văn bản nhưng đã thực hiện nội dung phân chia trên thực tế, mỗi bên đã nhận đất sử dụng ổn định, đăng ký kê khai với cơ quan nhà nước nên cần giữ nguyên hiện trạng sử dụng theo ý kiến của ông B, bà K là có cơ sở chấp nhận. Việc chỉ chia phần đất do bị đơn Huỳnh Đức T sử dụng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chưa đảm bảo tính công bằng và xem xét toàn diện đầy đủ về nguồn gốc đất của các bên.
[2.4] Đối với phần diện tích 309,7m² đất do bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V đang sử dụng, các đồng thừa kế khác có lời khai thống nhất là phần đất cha mẹ để dưỡng già, sau này có bán thì chia cho ba cô con gái. Lời khai này phù hợp với thực tế bà H chưa được chia đất nên cần xác định đây phần di sản chưa được phân chia để chia thừa kế cho các đồng thừa kế của ông Huỳnh Đức C, bà Lê Thị T5. Phần diện tích đất này nằm chung trong thửa đất số 12, tờ bản đồ 13, diện tích 950m² do ông Huỳnh Đức C kê khai trong sổ đăng ký ruộng đất. Trong đó diện tích đất thổ cư 200m² nằm ở vị trí nhà gốc theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 1997 và kết quả xác minh tại UBND phường P ngày 13/10/2023 nên diện tích đất 309,7m² này thuộc vị trí đất hàng năm khác, có giá trị theo kết quả định giá là 309,7m² x 245.000 đồng = 75.876.500 đồng.
[2.5] Hiện nay các bên đương sự đều có nhà ở ổn định, phần đất tranh chấp đã được bị đơn Huỳnh Đức T và bà Huỳnh Thị Thanh c nhà ở kiên cố ổn định trên đất nên không chấp nhận yêu cầu chia hiện vật của nguyên đơn.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia thừa kế đối với phần diện tích 309,7m² (do bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V đang sử dụng) có giá trị theo kết quả định giá là 309,7m² x 245.000 đồng = 75.876.500 đồng. Bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V đang sử dụng đất nên có trách nhiệm thanh toán lại giá trị cho các đồng thừa kế. Trong đó ông Huỳnh Đức B đã từ chối nhận thừa kế nên di sản được chia thành 4 kỷ phần
bằng nhau gồm Huỳnh Đức T6 (chuyển tiếp cho vợ Trần Thị K và các con), Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N; mỗi kỷ phần có giá trị 18.969.125 đồng.
[2.6] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế đối với phần đất của ông Huỳnh Đức T và yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chia thừa kế đối với phần đất của bà Huỳnh Thị S, bà Huỳnh Thị N, ông Huỳnh Đức B.
[3] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Đồng nguyên đơn Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản là 16.000.000 đồng; đã nộp tạm ứng là thi hành xong. Bị đơn Trần Thị K, Huỳnh Đức T tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản là 13.000.000 đồng; đã nộp tạm ứng là thi hành xong.
[4] Về án phí:
Các bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N và người thừa kế của ông Huỳnh Đức T6 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị kỷ phần thừa kế mà mình được nhận, cụ thể mỗi kỷ phần thừa kế phải chịu án phí là 5% x 18.969.125 đồng = 948.456 đồng.
Yêu cầu phản tố của bị đơn Trần Thị K, Huỳnh Đức T không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch.
Bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ tài sản phải thi hành là 5% x 75.876.500 đồng = 3.793.825 đồng.
Khấu trừ đối với số tiền án phí mà các đương sự đã thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các điều 611, 612, 613, 614, 616, 620, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Chia di sản thừa kế của ông Huỳnh Đức C, bà Lê Thị T5 là phần diện tích đất 309,7m² do bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V đang sử dụng thuộc thửa số 34, tờ bản đồ 44 đo đạc năm 2010, địa chỉ tại khu phố B, phường P, thành phố T; có giá trị là 75.876.500đ (bảy mươi lăm triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng) thành 04 kỷ phần bằng nhau, mỗi kỷ phần là 18.969.125đ (mười tám triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn một trăm hai mươi lăm đồng).
Bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V phải có nghĩa vụ thanh toán 04 kỷ phần thừa kế nói trên cho các đồng thừa kế là bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N và người thừa kế của ông Huỳnh Đức T6 (gồm vợ Trần Thị K và các con Huỳnh Thị T1, Huỳnh Đức T, Huỳnh Thị T2, Huỳnh Thanh T3, Huỳnh Thị N1), mỗi kỷ phần thừa kế là 18.969.125đ (mười tám triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn một trăm hai mươi lăm đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của các con Huỳnh Thị T1, Huỳnh Đức T, Huỳnh Thị T2, Huỳnh Thanh T3, Huỳnh Thị N1 giao bà Trần Thị K đại diện nhận kỷ phần của ông Huỳnh Đức T6. Trường hợp có tranh chấp thì các bên được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế đối với phần đất do ông Huỳnh Đức T sử dụng (thửa số 34, tờ bản đồ 44 đo đạc năm 2010) và yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chia thừa kế đối với phần đất do bà Huỳnh Thị S (thửa 47, tờ bản đồ 14 năm 1992), bà Huỳnh Thị N (thửa 23, tờ bản đồ 44 đo đạc năm 2010), ông Huỳnh Đức B (thửa 42, tờ bản đồ 44 đo đạc năm 2010) sử dụng.
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Áp dụng Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng nguyên đơn Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản là 16.000.000 đồng; đã nộp tạm ứng là thi hành xong. Bị đơn Trần Thị K, Huỳnh Đức T tự nguyện chịu chi phí thẩm định, đo đạc, định giá tài sản là 13.000.000 đồng; đã nộp tạm ứng là thi hành xong.
- Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bà Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N mỗi người phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 948.456₫ (chín trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng).
Người thừa kế của ông Huỳnh Đức T6 (gồm vợ Trần Thị K và các con Huỳnh Thị T1, Huỳnh Đức T, Huỳnh Thị T2, Huỳnh Thanh T3, Huỳnh Thị N1) phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 948.456đ (chín trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi sáu đồng).
Bà Huỳnh Thị T1, ông Đặng Nguyễn Thái V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 3.793.825đ (ba triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn tám trăm hai mươi lăm đồng).
Bà Trần Thị K, ông Huỳnh Đức T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm; đã nộp tạm ứng án phí 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0007876 ngày 11/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà nên được khấu trừ và hoàn lại cho bà Trần Thị K, ông Huỳnh Đức T số tiền 19.700.000đ (mười chín triệu bảy trăm nghìn đồng).
H1 lại cho đồng nguyên đơn Huỳnh Thị S, Huỳnh Thị H, Huỳnh Thị N số tiền tạm ứng án phí là 10.000.000đ (mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 11872 ngày 04/3/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Diễm Anh Trúc |
|
Các Hội thẩm nhân dân Phan Thị Oanh Lê Nhật Hoàng Phương |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Diễm Anh Trúc |
Bản án số 102/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 102/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thừa kế
