|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 102/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Khoa Thi
2. Ông Võ Thanh Tân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 322/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Nguyễn Thu H, sinh năm 1990
Cư trú: số 148/17/16, hẻm tỉnh lộ 943, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1988
Cư trú: Số B, tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Lê Nguyễn Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông K tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2007, không tổ chức lễ cưới và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành và hiện vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân đã trầm trọng không thể hàn gắn và kéo dài nên bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông K.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Lê Trần Thiên K1, sinh ngày 04/6/2008 và Lê Ngọc Thiên D, sinh ngày 25/4/2017; hiện con chung đang sống cùng bà H. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung; không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết bị đơn ông Trần Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2007, không tổ chức lễ cưới và cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật như bà H trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không đến mức phải ly hôn, ông mong muốn hàn gắn gia đình cùng bà H, nhưng nếu bà H vẫn kiên quyết thì ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Lê Trần Thiên K1, sinh ngày 04/6/2008 và Lê Ngọc Thiên D, sinh ngày 25/4/2017; hiện 02 con chung đang sống cùng bà H. Khi ly hôn, ông đồng ý giao 02 con chung cho bà H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; về cấp dưỡng, ông và bà H sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Có 01 xe Honda hiệu Vario mua năm 2022, xe do bà H đứng tên và hiện do bà H đang quản lý, sử dụng. Ông K yêu cầu bà H trả lại ông 50.000.000 đồng, ông đồng ý giao xe này lại cho bà H quản lý, sử dụng. Ông sẽ cung cấp đơn phản tố, nhưng nếu hết 07 ngày mà ông không nộp đơn thì xem như ông không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Nguyễn Thu H, tuyên bố không công nhận bà H và ông K là vợ chồng. Về con chung, giao 02 cháu Lê Trần Thiên K1, sinh ngày 04/6/2008 và Lê Ngọc Thiên D, sinh ngày 25/4/2017 cho bà H tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà H yêu cầu không công nhận bà và ông K là vợ chồng, ông K hiện cư trú tại số B, tổ G, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông K được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Nguyễn Thu H và ông Trần Văn K chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, quá trình chung sống do bất đồng về quan điểm sống và hiện tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu không công nhận bà và ông K là vợ chồng. Nhận thấy, bà H và ông K chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2007 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của ông bà đã vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc đăng ký kết hôn và hậu quả của việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/06/2000 của Quốc hội và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp tuyên bố không công nhận bà Lê Nguyễn Thu H và ông Trần Văn K là vợ chồng.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Lê Trần Thiên K1, sinh ngày 04/6/2008 và Lê Ngọc Thiên D, sinh ngày 25/4/2017. Sau ly hôn, bà H và ông K đều thống nhất giao 02 con chung cho bà H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; hơn nữa nguyện vọng của con cũng mong muốn được sống cùng mẹ. Do đó, để ổn định cuộc sống cho các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Lê Trần Thiên K1 và Lê Ngọc Thiên D. Trường hợp ông K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông K.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà H là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông K cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông K trình bày ông và bà H có tài sản chung là 01 xe Honda hiệu Vario mua năm 2022, xe do bà H đứng tên và hiện do bà H đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, đã hết thời hạn mà ông K không cung cấp đơn phản tố đối với yêu cầu chia tài sản chung, nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết. Đương sự có tranh chấp, khởi kiện vụ kiện khác theo quy định.
Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
[3] Về án phí: Bà Lê Nguyễn Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nguyễn Thu H.
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lê Nguyễn Thu H và ông Trần Văn K là vợ chồng.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Lê Trần Thiên K1, sinh ngày 04/6/2008 và Lê Ngọc Thiên D, sinh ngày 25/4/2017. Bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung. Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Lê Trần Thiên K1 và Lê Ngọc Thiên D. Trường hợp ông K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông K.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích khác của con, cơ quan có thẩm quyền; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Nguyễn Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001820, ngày 29/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà H đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án số 102/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 102/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bà H và ông K không phải vợ chồng
