Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 17-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.

- Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Thảo;
  • Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Danh Hoàng N, sinh năm 2000 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Vũ P và bà Trần Thị B; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2023 cho đến nay. Có mặt.

  2. Phạm Chấn V, sinh năm 2000 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: 1, Khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Anh T và bà Đinh Vân A; tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 20/11/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng, theo Quyết định số 250/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 08/10/2021.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2023 cho đến nay. Có mặt.

  3. Võ Thị Ngọc G, sinh năm 1993, tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Áp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Nhà trọ Hoàng Thế C, Tổ B, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S và bà Nguyễn Thị Cẩm N1; có chồng tên Lê Minh T1 (Không đăng ký kết hôn) và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo tại ngoại. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lê Phương D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
  2. Ông Trần Phước T2, sinh năm 2002; nơi cư trú: Xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Đặng Thị Nhật M, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn L, ông Ngô Tuấn K, ông Phạm Trung N2. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, Lực lượng Công an phường T đến kiểm tra hành chính tại nhà trọ G1 thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, khi kiểm tra đến phòng trọ số 02 thì phát hiện Danh Hoàng N, Lê Phương D và Trần Phước T3 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma tuý. Đồng thời phát hiện trên bàn gỗ trong phòng có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 (một) bịch màu đen treo trên tường trong nhà vệ sinh bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chưa tinh thể màu trắng, các đối tượng khai nhận là ma tuý. Lực lượng Công an niêm phong số ma túy trên và lập biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, đưa các đối tượng về trụ sở Công an phường làm việc.

Quá trình làm việc, các đối tượng khai nhận:

D1 khai: Danh Hoàng N, Phạm Chấn V đều là đối tượng sử dụng ma túy và có quen biết nhau. N và V cùng thuê phòng trọ số 02, nhà trọ G thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sinh sống. Từ khoảng tháng 03 năm 2023, N và V bàn bạc với nhau mua ma túy đá về sử dụng và bán lại cho các đối tượng sử dụng ma túy trên địa bàn, N và V cùng góp tiền hai lần đi mua ma tuý của đối tượng tên T4 (Không rõ lai lịch) tại khu dân cư P, phường T, thành phố T với giá 2.000.000 đồng. Lê Phương D và Trần Phước T3 là hai đối tượng thường xuyên mua ma tuý của N và V, đồng thời sử dụng ma tuý tại phòng trọ của N và V thuê. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/4/2023, D đến phòng trọ của N và V để mua ma túy sử dụng. Khi D đến phòng trọ chỉ có N ở phòng còn V đi vắng nên D ở lại phòng trọ chờ V về. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, V về đến thì D hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì V đưa cho D 02 (hai) gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, D đưa cho V 200.000 đồng và thiếu 200.000 đồng để trả sau. D ở lại phòng trọ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế ra, rồi lấy một ít ma túy vừa mua đổ vào bộ dụng cụ và sử dụng, sau đó đi lên gác phòng trọ ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/4/2023, D thức dậy và tiếp tục lấy ma túy đá sử dụng, khi sử dụng ma túy xong, D đi lên gác ngủ tiếp. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T3 đến phòng trọ để trả xe cho N thì N lấy ma túy đá đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế cho T3 sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T3 nằm ngủ tại phòng trọ của N. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Lực lượng Công an phường T đến kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang. Số ma túy bị thu giữ là của N và V mua về cất giấu nhằm mục đích để bán. Riêng N đã bán ma túy cho T3, D mỗi người 02 (hai) lần và cho T3, D sử dụng ma túy tại phòng trọ của N nhiều lần. Phạm Chấn V đi đâu N không rõ.

Lê Phương D khai: D là đối tượng nghiện ma tuý, thường xuyên mua ma tuý của N và V để sử dụng, mỗi lần mua xong đều sử dụng tại phòng trọ của N và V với bộ D2 sử dụng mà N và V cung cấp. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/4/2023, D đến phòng trọ của N và V để mua ma túy sử dụng. Khi D đến phòng trọ chỉ có N ở phòng còn V đi vắng nên D ở lại phòng trọ chờ V về. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, V về đến thì D hỏi mua 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) ma túy thì V đồng ý và đưa cho D 02 (hai) gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, D trả trước cho V 200.000 đồng và thiếu 200.000 đồng. D lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế ra, rồi lấy một ít ma túy vừa mua đổ vào bộ dụng cụ và sử dụng một mình, rồi đi lên gác phòng trọ ngủ. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/4/2023, D thức dậy và tiếp tục sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Lực lượng Công an phường T đến kiểm tra hành chính phát bắt quả tang. D đã mua ma túy của N 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng, mua ma túy của V 10 lần mỗi lần 200.000 đồng. Mỗi lần mua ma túy, D được N và V cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sử dụng ma túy tại phòng trọ của N và V, D đã sử dụng ma túy tại phòng của V, Nam 12 lần.

Trần Phước T3 khai: T3 là đối tượng nghiện ma tuý, thường xuyên mua ma tuý của N và V để sử dụng. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, T3 đến phòng trọ của N và V để trả xe cho N thì N lấy ma túy đá đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế cho T3 sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T3 nằm ngủ tại phòng trọ của N. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Lực lượng Công an phường T đến kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang. T3 đã mua ma túy của Nam 02 (hai) lần, mỗi lần 200.000 đồng. Mua ma túy của V 06 (sáu) lần mỗi lần 200.000 đồng. Mỗi lần mua ma túy, Nam, V đều cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sử dụng ma túy tại phòng trọ của N và V, trong đó T3 sử dụng riêng ma túy tại phòng của V, Nam 8 lần.

Ngày 30/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định toàn bộ vật chứng gồm 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký người bị bắt Danh Hoàng N, chữ ký người chứng kiến Trần Phước T3, Lê Phương D, cán bộ niêm phong Bùi Nguyễn Thanh B1 và hình dấu mộc đỏ của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng. Ngày 05/5/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Bản kết luận giám định số 241/MT-PC09 kết luận: Mẫu tinh thể Công an thu giữ của D1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,1336 gam.

2. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 06/5/2023, Công an phường T đang tuần tra, khi đi đến đoạn đường T thuộc Tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện Phạm Chấn V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện V đang cầm 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, V khai nhận là ma tuý. Lực lượng Công an niêm phong số ma túy trên và lập biên bản bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Chấn V.

Quá trình điều tra Phạm Chấn V khai: Phạm Chấn V, Danh Hoàng N, Võ Thị Ngọc G đều là đối tượng sử dụng ma túy và có quen biết nhau. N và V trước đây có thuê phòng trọ số 02, nhà trọ G thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sống. Tuy nhiên sau đó, khi nghe tin N bị bắt thì V đã chuyển qua phòng trọ của G để ở nhờ. Khoảng tháng 03 năm 2023, V và N bàn bạc với nhau mua ma túy đá về sử dụng và bán lại cho các đối tượng sử dụng ma túy trên địa bàn. V là người trực tiếp liên hệ mua ma tuý về để cùng N bán, V mua của đối tượng tên T4 (Không rõ lai lịch) tại khu dân cư P, mua 02 lần, mỗi lần 1.000.000 đồng. Lê Phương D và Trần Phước T3 là những người thường hay đến mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/4/2023, D hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì V đưa cho D 02 (hai) gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá, D đưa cho V 200.000 đồng và thiếu 200.000 đồng. Tiếp đó, V nói với D ở lại phòng trọ sử dụng ma túy và chỉ nơi để bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế cho D rồi V đi công việc. Sau đó, V nghe tin N, D, T3 bị kiểm tra phòng trọ rồi bị bắt quả tang. Số ma túy bị thu giữ tại phòng trọ là của N và V mua về cất giấu nhằm mục đích để bán. V đã bán ma tuý cho T3 06 (sáu) lần mỗi lần 200.000 đồng, bán cho D 10 (Mười) lần mỗi lần 200.000 đồng. Cấp dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sử dụng ma túy tại phòng trọ cho T3 sử dụng khoảng 8 lần còn D sử dụng khoảng 12 lần.

Sau khi chuyển qua ở với G thì V, G, Nguyễn Đặng Thị Nhật M cùng nhau sử dụng ma tuý tại phòng Giàu 02 lần, số ma tuý này là của G, V chỉ cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05 tháng 5 năm 2023, Nguyễn Minh N3 nhắn tin qua Facebook của V hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì V đồng ý và hẹn giao ma túy cho Nguyễn gần khu vực hồ C thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T. V nói với G làm cho gói ma túy đá 200.000 đồng thì G nói với V đang để dưới bàn, V đi từ trên gác xuống lại bàn lấy gói ma túy đá và cầm bên tay trái đi bộ đến điểm hẹn để giao ma túy đá cho N3, khi đang đi thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Sau đó, tiến hành khám xét phòng trọ của Giàu thu giữ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có nỏ thủy tinh bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) cân tiểu ly.

Võ Thị Ngọc G khai nhận: Giàu là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05 tháng 5 năm 2023, G điều khiển xe mô tô biển số 52M6 – 3441 chở con đi học, khi đi đến đoạn đường gần ngã tư khu phố Ô, phường T, thành phố T thì gặp một người phụ nữ tên N4 (không rõ lai lịch), G hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì N4 đồng ý và đưa cho G 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau đó, G đem ma túy về phòng trọ của mình cất giấu. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, G lấy một phần ma túy bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sử dụng cùng với V, M, phần ma túy đá còn lại G hàn kín và để trên bàn trong phòng trọ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi N3 nhắn tin V hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì V nói với G làm cho gói ma túy đá 200.000 đồng thì G nói với V đang để dưới bàn, V đi từ trên gác xuống lại bàn lấy gói ma túy đá và cầm đi giao thì bị Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở lời khai của V thì Cơ quan Công an khám xét khẩn cấp phòng trọ của G thu giữ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có nỏ thủy tinh bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) cân tiểu ly. G khai nhận gói ma túy thu giữ là của G đưa cho V đem đi bán, còn số ma tuý còn lại trong bộ D2 sử dụng ma tuý là G bỏ vào để cùng sử dụng. Ngoài ra, G còn cung cấp ma túy cho Nguyễn Đặng Thị Nhật M và V sử dụng 02 (hai) lần ở trong phòng trọ của G. Do G đang nuôi con nhỏ nên được cho tại ngoại để điều tra.

Nguyễn Đặng Thị Nhật M khai: M là bạn gái của V, M đã 02 lần cùng G và V sử dụng ma tuý đá tại phòng trọ của G. Ma tuý thì của G còn bộ dụng cụ sử dụng của V. Việc V và G bán ma tuý thì M không biết.

Ngày 06/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định toàn bộ vật chứng gồm một bì thư (ký hiệu M1) được niêm phong có chữ ký người bị bắt Phạm Chấn V; người chứng kiến Hoàng Văn L, Phạm Trung N2, cán bộ niêm phong Nguyễn Đỗ Hoài P1 hình dấu đỏ của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong bì thư có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) bì thư (ký hiệu M2) được niêm phong có chữ ký người bị bắt Võ Thị Ngọc G; người chứng kiến Hoàng Văn L, Phạm Trung N2, cán bộ niêm phong Lê Thanh S1 hình dấu đỏ của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong bì thư có 01 (một) nỏ thủy tinh chứa chất tinh thể màu trắng. Ngày 12/5/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Bản kết luận giám định số 251/KL-KTHS(MT) kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng Công an thu giữ của V và G gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng M1 là 0,1001 gam, M2 là 0,0522 gam, tổng khối lượng là 0,1523 gam.

3. Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, Công an phường T đang tuần tra, khi đi đến đoạn đường V thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện Võ Thị Ngọc G điều khiển xe mô tô biển số 51V3-6192 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện 09 (chín) gói nylon miệng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng trong túi vải khoá kéo màu đen bên ngoài có họa tiết ngôi sao, G khai nhận là ma tuý. Lực lượng Công an niêm phong số ma túy trên và lập biên bản bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Thị Ngọc G.

Quá trình điều tra Võ Thị Ngọc G khai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/7/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên G đi đến khu vực ngã tư Ông Đ, phường T để tìm gặp một người phụ nữ tên N4 (không rõ lai lịch) để mua ma tuý đá. G hỏi N4 mua 900.000 đồng ma túy đá, N4 đưa cho G một gói nylon hàn kín chứa ma tuý đá, sau đó G đi về phòng trọ của mình. Khi về đến phòng trọ, G cắt ra và chia số ma tuý trên vào 09 (chín) gói nylon, hàn kín lại bỏ vào trong túi vải khoá kéo màu đen có họa tiết ngôi sao cất giấu trong người. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 10/7/2023, G điều khiển xe mô tô biển số 51V3-6192 mang theo số ma tuý trên đi đến ngã tư Ông Đ, phường T để đón bạn của G. Khi đi đến đoạn đường V thuộc khu phố Ô, phường T thì bị Công an phát hiện phát hiện bắt giữ.

Ngày 10/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định toàn bộ vật chứng gồm 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Võ Thị Ngọc G, người chứng kiến Hoàng Văn L1, Ngô Tuấn K, chữ ký cán bộ niêm phong Bùi Nguyễn Thanh B1 và hình dấu đỏ Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bên trong có 09 (chín) gói nylon miệng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. Ngày 17/7/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Bản kết luận giám định số 412/KL-KTHS(MT) kết luận: Mẫu chất Công an thu giữ của Võ Thị Ngọc G gửi giám định có khối lượng 2,3349 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSTU ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Danh Hoàng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Chấn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

+ Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Hoàng N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ 08 năm đến 09 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” từ 08 năm đến 09 năm tù. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là từ 16 năm đến 18 năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Chấn V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” từ 09 năm đến 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là từ 17 năm 06 tháng đến 19 năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ 03 năm đến 04 năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” từ 08 năm đến 09 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” từ 02 năm đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là từ 13 năm đến 16 năm tù.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 241/PC09; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 412/PC09; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 251/PC09 (M1); 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 251/PC09 (M2) là số ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá tự chế đã qua sử dụng; 01 túi vải màu đen có hoạ tiết ngôi sao; 01 cân tiểu ly.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21S; 01 điện thoại di động Samsung S10, màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi8, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, màu xám; 01 xe mô tô nhãn hiệu honda Wave, màu xanh, biển số 51V3-6192.

Trả lại cho Võ Thị Ngọc G 01 căn cước công dân mang tên Võ Thị Ngọc G.

Buộc bị cáo Danh Hoàng N phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng.

Buộc bị cáo Phạm Chấn V phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.600.000 đồng.

- Các bị cáo Danh Hoàng N, Phạm Chấn V, Võ Thị Ngọc G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Danh Hoàng N, Phạm Chấn V, Võ Thị Ngọc G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:

[2.1] Phạm Chấn V cùng Danh Hoàng N mua ma tuý của một đối tượng tên T4 (Không rõ lai lịch) về để bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm tiền lời, đồng thời để sử dụng. Ngày 30/4/2023 tại nhà trọ G1 thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị cáo Danh Hoàng N và Phạm Chấn V có hành vi cất giấu trái phép 0,1336 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Từ khoảng tháng 3/2023 đến 30/4/2023, Phạm Chấn V có hành vi bán ma tuý cho Trần Phước T3 06 lần; Lê Phương D 10 lần. Thu lợi bất chính 1.600.000 đồng. Ngoài ra, Danh Hoàng N và Phạm Chấn V còn cung cấp địa điểm là phòng trọ, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cho Trần Phước T3 sử dụng ma tuý 08 lần; Lê Phương D sử dụng ma tuý 12 lần.

Ngày 05/5/2023, tại đoạn đường T thuộc tổ E, khu phố Ô, phường T, bị cáo Phạm Chấn V có hành vi cất giấu trái phép 0,1001 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho Nguyễn Minh N3 thì bị phát hiện bắt quả tang.

Từ ngày 30/4/2023 đến ngày 05/5/2023 tại nhà trọ của Võ Thị Ngọc G tại đường T thuộc tổ E, khu phố Ô, phường T, bị cáo Phạm Chấn V đã cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để cùng Võ Thị Ngọc G và Nguyễn Đặng Thị Nhật M sử dụng ma tuý 02 lần.

Do đó, hành vi của Phạm Chấn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Ngày 30/4/2023 tại nhà trọ G1 thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị cáo Danh Hoàng N và Phạm Chấn V có hành vi cất giấu trái phép 0,1336 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Từ khoảng tháng 3/2023 đến 30/4/2023, Danh Hoàng N có hành vi bán ma tuý cho Trần Phước T3 02 lần. Lê Phương D 02 lần. Thu lợi bất chính 400.000 đồng. Ngoài ra, Danh Hoàng N và Phạm Chấn V còn cung cấp địa điểm là phòng trọ, bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cho Trần Phước T3 sử dụng ma tuý 08 lần; Lê Phương D sử dụng ma tuý 12 lần.

Do đó, hành vi của bị cáo Danh Hoàng N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[2.3] Ngày 05/5/2023, bị cáo Võ Thị Ngọc Giàu c hành vi giao cho Phạm Chấn V cất giấu trái phép 0,1001 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho Nguyễn Minh N3 thì bị phát hiện bắt quả tang. Tiến hành khám xét tại phòng trọ tại đường T, tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T phát hiện bị cáo tàng trữ 0,0522 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho các con nghiện.

Từ ngày 30/4/2023 đến ngày 05/5/2023, Võ Thị Ngọc G cung cấp ma tuý và địa điểm để cùng Phạm Chấn V và Nguyễn Đặng Thị Nhật M sử dụng ma tuý 02 lần tại phòng trọ thuộc đường T, tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T.

Ngày 10/7/2023, tại đường V, thuộc khu phố Ô, phường T, thành phố T, bị cáo Võ Thị Ngọc G còn có hành vi tàng trữ trái phép 2,3349 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Do đó, hành vi của bị cáo Võ Thị Ngọc G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ngoài ra hành vi của các bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về đồng phạm: Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn giữa bị cáo N và bị cáo V, giữa bị cáo V và bị cáo G, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Do đó, khi quyết định hình phạt sẽ xem xét toàn diện về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Phạm Chấn V có nhân thân xấu, ngày Ngày 20/11/2020, bị Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 15 tháng, theo Quyết định số 250/2020/QĐ-TA.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là nặng, chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như nhân thân, hoàn cảnh của các bị cáo. Riêng bị cáo G hiện nay đang nuôi 04 con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức án phù hợp với hành vi của các bị cáo.

[10] Các bị cáo phạm nhiều tội nhưng xét xử cùng 01 lần, do đó Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với từng tội danh, sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

[11] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 51V3-6192. Quá trình điều tra xác định do ông Đặng Văn T5 đứng tên chủ sở hữu. Ông T5 khai nhận đã bán xe trên lại cho một người khác nhưng không làm thủ tục sang tên nên ông không có yêu cầu gì. Võ Thị Ngọc G khai nhận xe mô tô trên Giàu mua lại của một người khác nhưng không làm thủ tục sang tên. Kết quả tra cứu xe mô tô biển số 51V3-6192 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Bị cáo sử dụng xe mô tô để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y21s, màu xanh của bị cáo Danh Hoàng N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S10, màu bạc của bị cáo Võ Thị Ngọc G; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 8, màu đen của bị cáo Phạm Chấn V; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A71, màu xám của bị cáo Võ Thị Ngọc G. Các bị cáo đều khai nhận sử dụng điện thoại để làm phương tiện liên lạc việc mua, bán ma tuý. Do đó, cần tich thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 cân tiểu ly không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

+ Đối với số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý của bị cáo V là 1.600.000 đồng và bị cáo N là 400.000 đồng. Cần buộc các bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 căn cước công dân tên Võ Thị Ngọc G, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

+ Đối với số ma tuý còn lại sau giám định tại các bì thư đã được niêm phong có ký hiệu 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 241/PC09; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 412/PC09; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 251/PC09 (M1); 01 bì thư niêm phong, ký hiệu: 251/PC09 (M2) là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Phước T3, Lê Phương D, Nguyễn Đặng Thị Nhật M ngày 23/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 01, 02, 03 xử phạt mỗi người 1.500.000 đồng.

[13] Đối với các đối tượng tên T4, N4 bán ma túy cho V, G hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.

[14] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Danh Hoàng N, Phạm Chấn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Bị cáo Võ Thị Ngọc G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

1. Về hình phạt:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Phạm Chấn V 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 (Mười sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/5/2023.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Danh Hoàng N 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2023.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc G 02 (Hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

    Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11(Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cân tiểu ly; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế đã qua sử dụng; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu 241/PC09 có chữ ký của người bị bắt Danh Vũ N5, người chứng kiến Trần Phước T3, Lê Phương D, cán bộ niêm phong Nguyễn Thanh B1, dấu đỏ của Công an phường T, dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine theo kết luận giám định số 241/KL-KTHS(MT) ngày 05/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu 412/PC09 có chữ ký của người bị bắt Võ Thị Ngọc G, người chứng kiến Hoàng Văn L, Ngô Tuấn K, cán bộ niêm phong Bùi Nguyễn Thanh B1, dấu đỏ của Công an phường T, dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có 01 túi vải màu đen đựng 08 gói nylon hàn kín nhỏ chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), 01 gói nylon hàn kín lớn chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) là ma tuý, loại Methamphetamine theo kết luận giám định số 412/KL-KTHS(MT) ngày 17/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu 251/PC09 (M1) có chữ ký của người bị bắt Phạm Chấn V, người chứng kiến Hoàng Văn L, Phạm Trung N2, cán bộ niêm phong Nguyễn Đỗ Hoài P1, dấu đỏ của Công an phường T, dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có 01 túi nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine theo kết luận giám định số 251/KL-KTHS(MT) ngày 12/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 bì thư niêm phong, ký hiệu 251/PC09 (M2) có chữ ký của người bị bắt Võ Thị Ngọc G, người chứng kiến Hoàng Văn L, Phạm Trung N2, cán bộ niêm phong Lê Thanh S1, dấu đỏ của Công an phường T, dấu đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong có 01 nỏ thuỷ tinh chứa tinh thể màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine theo kết luận giám định số 251/KL-KTHS(MT) ngày 12/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 51V3-6192, số máy: VTT1P52FMH-*051537*, số khung: Bị mài mòn không đọc được số (Không kiểm tra tình trạng bên trong); 01 điện thoại di động hiệu S3 A71, màu xám (Không mở được nguồn, số IMEI (Khel): 353408116860386, số IMEI (Khe2): 353409116860, số sim: 0325625694; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21S (Không mở được nguồn, không kiểm tra tình trạng bên trong máy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S10, màu bạc (Không mở được nguồn, không kiểm tra tình trạng bên trong máy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI 8, màu đen (Không mở được nguồn, không kiểm tra tình trạng bên trong máy);

- Trả lại cho bị cáo Võ Thị Ngọc G 01 căn cước công dân tên Võ Thị Ngọc G.

- Buộc bị cáo Danh Hoàng N nộp 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước;

- Buộc bị cáo Phạm Chấn V nộp 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Danh Hoàng N, Phạm Chấn V và Võ Thị Ngọc G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đậu Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự (mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán, Tàng trữ, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Chấn Vũ cùng đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger