Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 15/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hoa
  2. Bà Nguyễn Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXX - HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc L - Sinh năm: 1996

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã H, tỉnh H. Có mặt;

- Bị đơn: Ông Biện Ngọc H - Sinh năm: 1989

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã H, tỉnh H. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Ngọc L trình bày:

Bà và ông Biện Ngọc H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh H và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 10/02/2015. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2022. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông Biện Ngọc H có 02 con chung tên Biện Thị Tường V – Sinh ngày 15/01/2014 và Biện Nhật P – Sinh ngày 20/4/2018. Ly hôn, Bà yêu cầu Tòa án giao 02 con chung cho Bà nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Biện Ngọc H để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông H không có mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 35; Điều 48; Điều 175; Điều 177; Điều 179; Điều 191; Điều 195; Điều 196 và Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân và con chung; tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, ông Biện Ngọc H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà Huỳnh Thị Ngọc Lê.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc L và ông Biện Ngọc H đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh H trên tinh thần tự nguyện và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09/2015, ngày 10/02/2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của nguyên đơn, quá trình vợ chồng chung sống thường phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng do vậy mà ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã không còn chung sống với nhau. Nay bà L không còn tình cảm với ông H nữa nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông H. Ông H đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần để Tòa lấy lời khai, hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng ông H vắng mặt. Xét thấy, bà L đã không còn tình cảm với ông H, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà L và ông H có 02 con chung tên Biện Thị Tường V – Sinh ngày 15/01/2014 và Biện Nhật P – Sinh ngày 20/4/2018. Ly hôn, bà L yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét con chung Biện Thị Tường V muôn ở với mẹ và cháu Biện Nhật P còn nhỏ nên giao cả 02 cháu Biện Thị Tường V và Biện Nhật P cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bà L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc L. Bà Huỳnh Thị Ngọc L được ly hôn với ông Biện Ngọc H.
  2. Về con chung: Giao 02 (Hai) con chung Biện Thị Tường V – Sinh ngày 15/01/2014 và Biện Nhật P – Sinh ngày 20/4/2018 cho bà Huỳnh Thị Ngọc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Ông Biện Ngọc H không cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Biện Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Ngọc L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0005709 ngày 21/02/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Huỳnh Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã Ninh Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa;
  • - UBND xã Ninh Thân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 102/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê ly hôn với ông Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger