|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 102/2024/HS-PT Ngày 12-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Đào Trọng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/HSPT ngày 23/5/2024 đối với bị cáo Tăng Thị Thảo L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Tăng Thị Thảo L, sinh năm 1991 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: 547 tổ A, ấp A, xã K, huyện A, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Số B L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký lưu trú hiện nay: 1 H, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Tăng Minh Q, sinh năm 1969 và bà Dương Thị K, sinh năm 1965; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất; Chồng: Phạm Đình T (đã ly hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2011;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 25/01/2024 được tại ngoại (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tăng Thị Thảo L và anh Lại Minh P có mối quan hệ tình cảm yêu đương với nhau. Thay vì phải chu cấp tiền hàng tháng cho L tiêu xài thì P đã thuê lại khách sạn B, địa chỉ E P, phường T, TP . để cho L làm quản lý. Trong thời gian làm quản lý khách sạn B thì L biết Nguyễn Thị H; Lê Hồng H1 và Nguyễn Thị Thùy T1 là gái bán dâm (do L cũng hành nghề bán dâm) nên L đã cho H, H1 và T1 thuê phòng tại khách sạn B để ở theo tháng và hoạt động mua bán dâm tại đây; giữa L và H, H1, T1 thỏa thuận sau mỗi lần bán dâm thì đưa cho L một nửa số tiền bán dâm có được. Khách sạn B hoạt động được một thời gian thì vắng khách nên khoảng đầu tháng 8/2023, P chuyển sang thuê khách sạn H2, địa chỉ B L, phường T, TP ., và tiếp tục để cho L làm quản lý tại đây, đồng thời thuê Lê Thanh T2 làm lễ tân. Từ thời điểm chuyển qua kinh doanh khách sạn H2 thì H, H1, T1 tiếp tục hỏi L để xin chuyển qua ở tại khách sạn H2 để thực hiện việc mua bán dâm, L đồng ý và sắp xếp cho H ở phòng 302; H1 ở phòng 201; T1 ở phòng 102.
Ngày 14/8/2023, Tăng Thị Thảo L đến khách sạn H2 thì Lê Thanh T2 nhờ L trực ca lễ tân tiếp đón khách thay cho T2 từ 12 giờ 00 phút đến 17 giờ 00 phút. Trong thời gian L trực lễ tân, vào lúc 15 giờ 00 phút có 02 (hai) người khách là Nguyễn Quốc T3 và Nguyễn Phúc Q1 cùng đi đến gặp L thuê 02 (hai) phòng với giá tiền là 120.000đ/phòng/giờ với mục đích mua dâm. Sau đó, L đưa chìa khoá phòng 202 cho T3 để T3 mua dâm Nguyễn Thị H với giá 300.000 đồng/lần và đưa chìa khóa phòng 203 cho Q1 để Q1 mua dâm Lê Hồng H1 với giá 400.000 đồng/lần; bao cao su do gái bán dâm tự trang bị sử dụng. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua, bán dâm thì bị Công an T4 kiểm tra phát hiện:
- - Tại phòng 202: Nguyễn Quốc T3 đang có hành vi mua dâm của Nguyễn Thị H với giá 300.000 đồng/lần.
- - Tại phòng 203: Nguyễn Phúc Q1 đang có hành vi mua dâm của Lê Hồng H1 với giá 400.000 đồng/lần. Q1 mua dâm hai lần, đã đưa 800.000 đồng cho H1.
Quá trình điều tra xác định: Để có khách mua dâm, Lê Hồng H1 sử dụng số điện thoại 0353.569.xxx đăng thông tin (hình ảnh gợi cảm, kèm theo giá bán dâm là 400.000đ/lượt) lên trang Web “Gaito”; “Gaigu”; Nguyễn Thị H sử dụng số điện thoại 0978.229.xxx để đăng thông tin (hình ảnh gợi cảm, kèm theo giá bán dâm là 300.000đ/lượt) lên trang Web “Gaito.fun”. Ngày 14/8/2023, Nguyễn Quốc T3 nhắn tin mua dâm với H và Nguyễn Phúc Q1 nhắn tin mua dâm với H1; H và H1 đồng ý nên nhắn tin cho T3 và Q1 đến Khách sạn H2 thuê phòng rồi nhắn tin số phòng để H, H1 đến thực hiện hành vi mua, bán dâm và sau đó bị bắt quả tang như nêu trên.
Tiến hành trưng cầu phục hồi dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy M33 5G; số IMEI 1: 353647612356361; số IMEI 2: 355633742356362 của Lại Minh P. Tại bản kết luận giám định số 6961/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phân viện KHHS Bộ C tại TP . kết luận: “Phục hồi, trích xuất dữ liệu từ điện thoại gửi giám định (ký hiệu A) nêu tại mục II.1. Dữ liệu khai thác được sao lưu ra một thiết bị lưu trữ kèm theo kết luận giám định này”. Tiến hành lập biên bản làm việc về việc kiểm tra thông tin được lưu trữ trong thiết bị điện tử (USB) do Phân viện Khoa học hình sự (C09B) – Bộ C bàn giao cho Cơ quan CSĐT – Công an T4 thì không phát hiện thấy thông tin có liên quan đến hoạt động mua, bán dâm (BL: 41-44).
Tại Cơ quan Công an, Tăng Thị Thảo L đã khai nhận hành vi của bản thân như trên.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Tăng Thị Thảo Loan phạm tội “Chứa mại dâm”
Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Tăng Thị Thảo Loan 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt phải thi hành án (Khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 25/01/2024).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 16/4/2024, bị cáo Tăng Thị Thảo L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Tăng Thị Thảo L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Thị Thảo L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Tăng Thị Thảo L làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:
Vào ngày 14/8/2023, tại khách sạn H2, địa chỉ B L, phường T, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tăng Thị Thảo L có hành vi chứa mại dâm một lần cho hai cặp mua bán dâm tại khách sạn, trong đó hai người mua dâm được xác định đi chung với nhau cùng một thời điểm, cụ thể:
- - Tại phòng 202: Nguyễn Quốc T3 đang có hành vi mua dâm của Nguyễn Thị H với giá 300.000 đồng/lần.
- - Tại phòng 203: Nguyễn Phúc Q1 đang có hành vi mua dâm của Lê Hồng H1 với giá 400.000 đồng/lần. Q1 mua dâm hai lần, đã đưa 800.000 đồng cho H1.
Mặc dù tại thời điểm kiểm tra có hai cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại khách sạn H2, tuy nhiên những người mua dâm Nguyễn Phúc Q1 và Nguyễn Quốc T3 khai nhận cả hai là bạn bè chơi chung với nhau, ngày 14/8/2023, cả hai rủ nhau tìm gái bán dâm và liên hệ được với Nguyễn Thị H, Lê Hồng H1; nên cùng nhau đến khách sạn H2 để gặp Tăng Thị Thảo L thuê phòng và mua bán dâm. Lời khai của L cũng xác định hai người đàn ông này cùng đến một lúc và đặt vấn đề thuê phòng với L. Do đó, chỉ xác định hành vi của Tăng Thị Thảo L thuộc trường hợp chứa mại dâm một lần.
Do đó, hành vi của bị cáo Tăng Thị Thảo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, vi phạm thuần phong mỹ tục, tạo môi trường, nguy cơ lây lan bệnh tật trong đó nguy hiểm nhất là căn bệnh thế kỉ HIV, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương; trước đó bị cáo cũng từng làm quản lý khách sạn B biết Nguyễn Thị H; Lê Hồng H1 và Nguyễn Thị Thùy T1 là gái bán dâm đã cho H, H1 và T1 thuê phòng tại khách sạn B để ở theo tháng và hoạt động mua bán dâm tại đây; giữa L và H, H1, T1 thỏa thuận sau mỗi lần bán dâm thì đưa cho L một nửa số tiền bán dâm có được, mặc dù bị cáo không bị xử lý hành vi này nhưng tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm, cần có mức án tương xứng, phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo cung cấp sổ đăng ký lưu trú và đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, là mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ và cha mẹ già nhiều bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên những tài liệu trên so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo chưa đủ căn cứ để cho bị cáo được hưởng án treo. Toà án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù là phù hợp với tính chất hành vi của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
VÌ CÁC LẼ TRÊN;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Thị Thảo L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Tăng Thị Thảo L phạm tội “Chứa mại dâm”
Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Tăng Thị Thảo Loan 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt phải thi hành án (Khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 14/8/2023 đến ngày 25/01/2024).
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2024/HSST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hiếu |
Bản án số 102/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự - tội chứa mại dâm
- Số bản án: 102/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tăng Thị Thảo L Chứa mại dâm
