Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 102 /2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Luận

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Trung T, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT và cư trú: TDP X, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Trung B (đã chết) và bà Vũ Thị O; vợ: Hoàng Thị V (đã ly hôn) và 02 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 03/01/2013, Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 189/QĐ-XPHC về hành vi Cố ý gây thương tích; hình thức: Phạt tiền; mức phạt: 1.000.000 đồng (đã chấp hành xong).
  • - Bản án số 16/2006/HSST ngày 05/4/2006 của TAND huyện Chương Mỹ xử phạt Trịnh Trung T 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2008; nộp án phí HSST ngày 22/8/2006 (đã xóa án tích).
  • - Bản án số 43/2017/HSST ngày 25/5/2017 của TAND huyện Chương Mỹ, xử phạt Trịnh Trung T 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2019; nộp án phí HSST ngày 27/9/2019 (đã xóa án tích).

D chỉ bản số 292 do Công an huyện C lập ngày 02/5/2024.

Tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T2 (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, Công an xã T phối hợp với Công an thị trấn X, đều thuộc Công an huyện C làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại địa bàn TDP X, thị trấn X, huyện C, Tp., tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Trịnh Trung T - sinh năm 1976 đang đứng trước của nhà chờ bán 01 túi ma túy cho đối tượng mua ma túy nhằm lấy 300.000 đồng, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Thuấn 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (1x1,5)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp. T khai nhận đây là số ma túy tổng hợp dạng đá của T cất giấu để bán. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật vụ án.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước (1x1,5)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng đá được niêm phong trong một phong bì dán kín, tại các mép dán của phong bì có chữ ký của cán bộ Công an xã T, đối tượng Trịnh Trung T; bốn góc phong bì có hình dấu Công an thị trấn X.
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus vỏ màu vàng, đã qua sử dụng do Trịnh Trung T tự nguyện giao nộp.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Trịnh Trung T ở TDP X, thị trấn X, huyện C, Tp . không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 3144/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phòng K - Công an T2, kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,181 gam.”

Quá trình điều tra, Trịnh Trung T khai nhận: T là người sử dụng ma túy Methamphetamine từ năm 2005, thỉnh thoảng Thuấn mua ma túy để sử dụng. Thấy bán ma túy có lời, trưa ngày 24/4/2024, T tìm mua được của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực ngã tư thị trấn X, huyện C 01 túi nilông chứa ma túy tổng hợp dạng “đá” với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để sử dụng và để bán cho người có nhu cầu nhằm thu lời bất chính.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/4/2024, T đang ở nhà tại TDP X, thị trấn X, huyện C thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0989945132 của một người nam giới không quen biết gọi đến số thuê bao 0866088452 của T. Qua trao đổi điện thoại, người nam giới này hỏi mua của T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền ma túy tổng hợp dạng đá. Thuấn đồng ý bán và hẹn người thanh niên đến giao nhận mua bán tại cửa nhà ở của T. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi T cầm túi ma túy trong lòng bàn tay phải đi ra đứng ở cửa nhà đứng chờ đối tượng đến bán ma túy theo như đã hẹn. Khi T đang đứng đợi trước cửa nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của Trịnh Trung T, thấy trên điện thoại di động có cuộc gọi đến từ số thuê bao 0989945132 gọi lúc 16 giờ 25 phút gọi đến số thuê bao 0866088452 của T.

Cáo trạng số 92/CT-VKS-CM ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Trịnh Trung T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS, phạt Trịnh Trung T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus thu của T; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 24/4/2024, tại khu vực trước cửa nhà Trịnh Trung T (sinh năm 1976) địa chỉ ở TDP X, thị trấn X, huyện C, Tp .. Tổ công tác Công an xã T phối hợp với Công an thị trấn X bắt quả tang T đang cầm trong bàn tay phải 01 túi nilông ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,181 gam đứng chờ đối tượng đã hẹn đến để bán cho người này lấy 300.000 đồng. Hành vi của Trịnh Trung T cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Trịnh Trung T theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an ở địa phương bị Nhà nước nghiêm cấm, pháp luật hình sự trừng phạt. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội về ma túy cần xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian giúp bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt.

[2.2]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân bị cáo xấu có 02 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 01 tiền sự về hành vi Cố ý gây thương tích đều đã được xóa.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS, cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.4]. Đối với nguồn gốc ma túy mà Trịnh Trung T mua để sử dụng và bán nhưng T không biết tên, địa chỉ người phụ nữ bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thấy không có đủ căn cứ để tiến hành điều tra xác minh làm rõ đối tượng bán ma túy để xử lý.

Đối với đối tượng hỏi mua ma túy của Trịnh Trung T, T không quen biết chưa gặp mặt, chỉ biết sử dụng số thuê bao 0989945132. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã xác định người đăng ký số thuê bao nêu trên là chị Đồng Thị C (sinh năm 1989; trú tại thôn X, xã T, huyện C, Tp .). Chị C trình bày chỉ sử dụng số thuê bao 0989945132 để đăng nhập vào mạng Internet và bị rơi mất chiếc ĐTDĐ lắp số thuê bao nêu trên vào khoảng tháng 02/2024, hiện không biết ai là người sử dụng, chị C không quen biết Trịnh Trung T. Xét thấy không có đủ căn cứ để tiến hành điều tra xác minh làm rõ đối tượng mua ma túy để xử lý.

[2.5]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 8 PLus đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo liên lạc để mua bán ma túy cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Trung T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt: T (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
  3. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì do PC 09 - Công an T2 dán kín trên các mép dán có chữ ký của giám định viên, cán bộ Công an xã T Nguyễn Văn T1, đối tượng Trịnh Trung T (bên trong chứa Methamphetamine).
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng, số IMEI: 359401086747265, không kiểm tra tình trạng, chất lượng bên trong máy.

    (Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - THA HS;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội về hình sự (vụ án mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vụ án Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger