Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 102/2024/HSST

Ngày 09/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
  • 2. Bà Nguyễn Thị Thu Ba

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Đặng Mỹ Phương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

- Trần Thị Bích H, sinh ngày 01/01/1953; tại: Cần Thơ; Nơi cư trú: khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn T (Đã chết) và bà: Trần Thị Lệ M (Đã chết); Chồng: Lý Hồng Q, sinh năm 1944 (Đã chết); Con: có 01 người, sinh năm 1983; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị Bích H làm nghề buôn bán thuốc lá từ năm 2019 tại địa chỉ số E đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2023, khi H đang buôn bán ở tiệm thuốc lá của H thì có ba người đàn ông tên D, C và B (chưa rõ nhân thân) lần lượt đến hỏi H có mua thuốc lá điếu ngoại bán không, qua trao đổi giá thì H đồng ý mua bán lại kiếm lời. Từ ngày 01/12/2023 đến ngày 15/12/2023, D, C và B đem đến tiệm bán cho H tổng cộng là 4.350 bao thuốc lá điếu ngoại các loại, nhưng H không nhớ mỗi loại bao nhiêu và không nhớ đã trả bao nhiêu tiền. Mua được thuốc lá điếu ngoại, H để một ít trưng bày bán chung với thuốc lá nội để bán hàng ngày cho khách với mỗi bao thuốc lá ngoại bán ra, H lời được 1.000 đồng; số còn lại đem cất giấu trong nhà vệ sinh của điểm kinh doanh. Từ khi mua cho đến ngày 15/12/2023, H đã bán được 1.183 bao thuốc lá điếu ngoại các loại cho nhiều người mua sử dụng (không rõ nhân thân) được khoảng 20.000.000 đồng, trong đó số tiền lời được 1.183.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 15 phút ngày 15/12/2023, Công an thành phố P đến địa điểm kinh doanh thuốc lá của Trần Thị Bích H kiểm tra, phát hiện H đang trưng bày và bán thuốc lá điếu ngoại các loại nên đã lập biên bản bắt quả tang thu giữ 1.167 bao thuốc lá ngoại các loại, M1, C1, H1, 555, J, Z, B1, W, N, S, M2, R, F, C2, M3, C3, R1, E, C4. Sau đó, Trần Thị Bích H vào nhà về sinh mang ra giao nộp thêm 2.000 bao thuốc lá ngoại các loại, gồm: Esse, R1, M1, C3, M3, C4, N, H1, R, C2, Z và 555. Đến ngày 17/01/2024, Trần Thị Bích H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

  • - 3.167 bao thuốc lá ngoại, gồm: 1.280 bao Esse, 172 bao Richmond, 175 bao Mond, 53 bao Capri, 134 bao Marula, 27 bao Caraven, 38 bao Nelson, 156 bao Hero, 196 bao Raison, 73 bao Canyon, 74 bao Zouk, 236 bao 555, 388 bao Jet, 41 bao Chapman, 07 bao Captain Black, 05 bao Winston, 03 bao Marlboro, 07 bao Forte, 102 bao Scott.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N1, Model TA 1203, IMEI: 350618548051031, màu đen đã qua sử dụng, đã trao trả cho bị cáo H do không liên quan đến việc phạm tội;
  • - Tiền Việt Nam: 1.183.000 đồng (do bị cáo H giao nộp).

Bản cáo trạng số 100/CT-VKSPQ, ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Trần Thị Bích H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người đàn ông tên B, D và C chưa rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với những người chưa rõ nhân thân mua thuốc lá ngoại của H. Cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại phiên toà bị cáo Trần Thị Bích H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

  • - Hành vi của bị cáo Trần Thị Bích H đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm o, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điều 35 BLHS, xử phạt bị cáo từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 3.167 bao thuốc lá ngoại, gồm: 1.280 bao Esse; 172 bao Richmon; 175 bao Mond; 53 bao Capri; 134 bao Marula; 27 bao Caraven; 38 bao Nelson; 156 bao Hero; 196 bao Raison; 73 bao Canyon; 74 bao Zouk; 236 bao 555; 388 bao Jet; 41 bao Chapman; 07 bao Captain Black; 05 bao Winston; 03 bao Marlboro; 07 bao Forte; 102 bao Scott.
  • + Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước tiền Việt Nam: 1.183.000 đồng.
  • - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS. Đề nghị buộc bị cáo Trần Thị Bích H giao nộp số tiền liên quan đến tội phạm từ việc bán thuốc lá điếu ngoại là 18.817.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Trần Thị Bích H được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh với ngành, nghề kinh doanh “Mua bán thuốc lá nội; Bán lẻ đồ uống có cồn: rượu, bia”. Lợi dụng ngành, nghề kinh doanh, từ ngày 01/12/2023 đến ngày 15/12/2023, Trần Thị Bích H mua 4.350 bao thuốc lá điếu ngoại các loại nhập lậu (không có tem, phiếu nhập khẩu, không có hoá đơn chứng từ hợp pháp) của C, D, B (chưa rõ nhân thân) và đã bán lại cho những người mua sử dụng (không rõ nhân thân) được 1.183 bao. Tổng số tiền bán được khoảng 20.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 1.183.000 đồng, số thuốc lá còn lại H trưng bày để bán và cất giấu trong nhà vệ sinh. Đến khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 15/12/2023, Công an thành phố P đến kiểm tra tại địa điểm kinh doanh của H tại số E đường N, khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang và H tự giao nộp tổng cộng 3.167 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu. Theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ thì “Thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu” thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông tên B, D và C chưa rõ nhân thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với những người chưa rõ nhân thân mua thuốc lá ngoại của H. Cơ quan điều tra đang xác minh làm rõ xử lý sau.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Hành vi của bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Khi phạm tội bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo tự thú hành vi phạm tội trước đó mà cơ quan điều tra chưa phát hiện; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[6]. Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy tang vật là hàng cấm gồm: 3.167 bao thuốc lá ngoại, gồm: 1.280 bao Esse, 172 bao Richmond, 175 bao Mond, 53 bao Capri, 134 bao Marula, 27 bao Caraven, 38 bao Nelson, 156 bao Hero, 196 bao Raison, 73 bao Canyon, 74 bao Zouk, 236 bao 555, 388 bao Jet, 41 bao Chapman, 07 bao Captain Black, 05 bao Winston, 03 bao Marlboro, 07 bao Forte, 102 bao Scott.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là 1.183.000 đồng.

[7]. Về biện pháp tư pháp: buộc Trần Thị Bích H giao nộp số tiền liên quan đến tội phạm từ việc bán thuốc lá điếu ngoại là 18.817.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bích H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 190; điểm o, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt tiền Trần Thị Bích H 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

  3. Về vật chứng vụ án: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 3.167 bao thuốc lá ngoại, gồm: 1.280 bao Esse; 172 bao Richmon; 175 bao Mond; 53 bao Capri; 134 bao Marula; 27 bao Caraven; 38 bao Nelson; 156 bao Hero; 196 bao Raison; 73 bao Canyon; 74 bao Zouk; 236 bao 555; 388 bao Jet; 41 bao Chapman; 07 bao Captain Black; 05 bao Winston; 03 bao Marlboro; 07 bao Forte; 102 bao Scott.
    • (Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2024).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền Việt Nam: 1.183.000 đồng (Một triệu, một trăm tám mươi ba nghìn đồng).
    • (Số tiền trên đã nộp vào tài khoản của Kho bạc nhà nước thành phố P theo Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ngày 20/6/2024 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh P).
  4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 BLHS.

    Buộc Trần Thị Bích H giao nộp số tiền liên quan đến việc bán thuốc lá điếu ngoại là 18.817.000 đồng (Mười tám triệu, tám trăm mười bảy nghìn đồng), nộp vào ngân sách Nhà nước.

  5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp Kiên Giang;
  • - VKS thành phố Phú Quốc;
  • - Chi cục THA Dân sự;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo; NĐDS;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Võ Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (tội buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 102/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Bích H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger