BẢN ÁN SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án : 102/2024/HS-ST Ngày: 06/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầm Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kiên Hiển
Bà Hoàng Xuân Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện VKSND Quận 3, Tp. tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị N – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Thanh P, sinh năm 2004; tại tỉnh Khánh Hòa; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã N, Thị xã N, Tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không ; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Xuân B và bà Hoàng Thị Kim H; vợ,con: chưa có; tiền án: Ngày 22/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2023; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 01/3/2024, Tòa án nhân dân Quận 3 có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng. Ngày 05/6/2024, Cơ sở cai nghiện ma túy Đ có Quyết định tạm đình chỉ thi thành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại giam C - Công an Thành phố H kể từ ngày 05/6/2024 (bị cáo có mặt).
Người bị hại: Ông Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1999. (vắng mặt)
Nơi thường trú: Ấp B, Xã T, Hồ N, Tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn Minh T, sinh năm 1981; Nơi thường trú: Đường I, KDC T, Thị trấn B, Huyện B, Tỉnh Long An. (vắng mặt)
Nơi ở hiện tại: 118-120 Q, Phường H, TP ., TP . Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 17/12/2023, Đoàn Thanh P truy cập vào trang mạng Facebook thì thấy anh Nguyễn Trọng H1 đăng bài cần tìm việc làm. Lúc này, P nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên liên hệ với anh H1 và hứa hẹn sẽ tìm việc làm cho anh H1 tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh H1 nói đang ở thành phố T, tỉnh Bình Dương, không có tiền lên Thành phố Hồ Chí Minh nên P đi xe ôm đến Bình Dương gặp anh H1. Sau đó, P đón xe ôm cùng anh H1 đến tiệm Internet số A N, Phường C, Quận C. Khi đến nơi, P dẫn anh H1 vào tiệm, mở máy tính cho anh H1 chơi game và nói anh H1 ngồi chờ một lát có người qua đón. P giả vờ mượn điện thoại của anh H1 để nhắn tin rồi P đem điện thoại của H1 đến cầm tại tiệm C1 Quốc lộ A, phường H, T được 1.300.000 đồng. Sau đó, P quay lại tiệm internet dẫn anh H1 đi nhậu tại khu vực Quận A. Trong lúc nhậu, anh H1 hỏi điện thoại đâu thì P nói cho ông anh mượn để đi thu tiền góp và sẽ trả lại ngay. P và anh H1 nhậu đến 24 giờ cùng ngày thì tính tiền rồi quay về tiệm internet nhưng do tiệm không cho ở qua đêm nên P dẫn anh H1 ra bãi đất trống gần tiệm internet ngủ. Sáng ngày 18/12/2023, anh H1 tiếp tục hỏi điện thoại thì P nói lát nữa ông anh đem lại trả. Sau đó, P dẫn anh H1 đi lòng vòng để tìm cơ hội bỏ trốn nhưng do anh H1 theo sát nên không trốn được. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, P dẫn anh H1 quay lại tiệm internet vào chơi game. Lúc này, anh H1 nghi ngờ bị P lừa đảo nên dẫn P đến Công an P2, Quận C trình báo sự việc.
Quá trình tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, do chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự và P dương tính với ma túy nên Công an P2 lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 15/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2 ra quyết định khởi tố vụ án, bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với P đến ngày 05/6/2024, Cơ quan điều tra lập biên bản bắt bị can để tạm giam đối với P.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P2, bị cáo Đoàn Thanh P đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trọng H1 như trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận C kết luận: 01 điện thoại hiệu OPPO A53 màu xanh ngọc vào thời điểm tháng 12/2023 có giá 850.000 đồng.
Đối với ông Nguyễn Văn Minh T là chủ tiệm C1 Q, Phường H, TP., TP . Hồ Chí Minh đã nhận cầm điiện thoại hiệu OPPO, do không biết tài sản bị cáo P phạm tội mà có nên Cơ quan Điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ.
Vật chứng vụ án:
01 điện thoại di động hiệu OPPO A51 màu xanh ngọc, của anh Nguyễn Trọng H1 và 01 áo thun màu đen, 01 quần jean dài thu giữ của Trần Thanh P1 (đã nhập kho vật chứng).
01 đĩa DVD ghhi nhận hình ảnh P1 đến tiệm cầm đồ số 118-120 Quốc lộ A, phường H, thành phố T để cầm điện thoại của anh H1.
01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh anh Nguyễn Trọng H1 đưa điện thoại di động cho P1 tại tiệm internet tại địa chỉ A N, Phường C, Quận C.
Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trọng H1 yêu cầu được nhận lại điện thoại đã bị chiếm đoạt.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS-HS ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh Phong về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay :
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại: ông Nguyễn Trọng H1 (vắng mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Minh T (vắng mặt tại phiên tòa)
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thanh P từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù giam; trách nhiệm dân sự: giao trả cho Nguyễn Trọng H1 01 điện thoại di động hiệu OPPO A51 màu xanh ngọc; tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun màu đen, 01 quần jean dài là phương tiện phạm tội;
Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh P đến tiệm C2 số 118-120 Quốc lộ A, phường H, thành phố T để cầm điện thoại của anh H1 và 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh anh Nguyễn Trọng H1 đưa điện thoại di động cho P tại tiệm internet tại địa chỉ A N, Phường C, Quận C, Tp Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra Công an P2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự qui định. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại cũng không có bất cứ ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng. Vì vậy có cơ sở xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, là phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với nội dung Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do Công an P2, Quận C lập ngày 18/12/2024 (BL22); phù hợp nội dung các lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Vì vậy Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Vào ngày 17/12/2023, tại A N, Phường C, Quận C, do có ý định chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trọng H1 nên P đã giả vờ mượn điện thoại hiệu OPPO A53 màu xanh ngọc có giá 850.000 đồng của anh H1 sử dụng nhưng sau đó đem đi cầm tại tiệm C2 với giá 1.300.000 đồng lấy tiền tiêu xài hết. Mặc dù, tài sản bị chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng P có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 48/HSST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông), chưa được xóa án tích nên P phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, nên cần phải điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật. Do đó, Cáo trạng 110/CT-VKS-HS ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Đoàn Thanh P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng do động cơ tham lam ích kỷ và xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cho cá nhân nhưng không chịu lao động nên dẫn đến việc bị cáo phạm tội. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Tuy nhiên cũng xét, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối lỗi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[5] Từ những cơ sở trên, nghĩ cần căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt, Điều 38 Bộ luật Hình sự quy định về tù có thời hạn; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định về khung hình phạt áp dụng; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 điện thoại di động hiệu OPPO A51 màu xanh ngọc, của anh Nguyễn Trọng H1 không liên quan vụ án nghĩ nên giao trả anh H1.
01 áo thun màu đen, 01 quần jean dài là phương tiện phạm tội nghĩ nên tịch thu tiêu hủy
01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh P đến tiệm cầm đồ số 118-120 Quốc lộ A, phường H, thành phố T để cầm điện thoại của anh H1 và 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh anh Nguyễn Trọng H1 đưa điện thoại di động cho P tại tiệm internet tại địa chỉ A N, Phường C, Quận C nghĩ nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7] Trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trọng H1 yêu cầu được nhận lại điện thoại di động hiệu OPPO A51 màu xanh ngọc đã bị chiếm đoạt do không liên quan vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H1.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nghĩ nên chấp nhận.
[9] Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh P đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 38; Điều 50; điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự đối với Đoàn Thanh P.
Xử phạt: Đoàn Thanh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024.
Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun màu đen, 01 quần jean dài.
Giao trả cho Nguyễn Trọng H1 01 điện thoại di động hiệu OPPO A51 màu xanh ngọc.
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh P đến tiệm cầm đồ số 118-120 Quốc lộ A, phường H, thành phố T để cầm điện thoại của anh H1 và 01 đĩa DVD ghi nhận hình ảnh anh Nguyễn Trọng H1 đưa điện thoại di động cho P tại tiệm internet tại địa chỉ A N, Phường C, Quận C, Tp Hồ Chí Minh.
(Tài sản giao trả, tịch thu và tiêu hủy được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 881/LNK-ĐTTH ngày 18/7/2024 của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an P2)
Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tổng đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận :
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Tuấn Kiệt |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
