Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 102/2024/HSST

Ngày: 06/8/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Cường

Bà Ngô Thị Như Hoa

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: bà

Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn N, tên gọi khác: không, sinh ngày 15/02/1988 tại tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn C (đã chết) và bà Bùi Thị H (đã chết); Bị cáo đã ly hôn; Có 01 con, sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 06 anh em. Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 17/9/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Theo bản án số 81/2019/HSST. (Đã được xóa án tích).

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 26/3/2024 cho đến nay. Hiện đang đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Ngọc Thành D, sinh năm 2003 (vắng mặt không có lý do)

Trú tại: Tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/3/2024, Bùi Văn N đi bộ từ chỗ làm tại Phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình đến tổ A, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Nin đi vào một ngõ nhỏ, gặp một người đàn ông không quen biết được người này giới thiệu tên Đ. Qua trao đổi Nin mua được của người đàn ông một gói ma túy với giá 100.000₫ (một trăm nghìn đồng). N đưa tiền cho người đàn ông này và người đàn ông đưa cho N một vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” bên trong có một gói giấy có chứa chất ma túy.

Sau khi mua được ma túy Bùi Văn N cất trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng cho bản thân. Khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tiến hành lập biên bản niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 165/KLGĐ ngày 02/4/2024 của Phòng PC 09- Công an tỉnh H kết luận: “Chất dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong gửi giám định có khối lượng:0,16 g (Không phảy mười sáu gam) là loại ma tuý, loại H1 và M”

Về vật chứng của vụ án: Ngày 26/3/2024, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H đã tiến hành thu giữ của Bùi Văn N: Ma túy khối lượng 0,16g (không phẩy mười sáu gam), là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine;

Cáo trạng số 89/CT-VKSTP ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Bùi Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt mức án từ 13 (mười ba) tháng tù đến 16 (mười sáu) tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi là sai, đã vi phạm pháp luật, rất ân hận. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
  2. Về hành vi các bị cáo đã thực hiện: Tại giau đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Bùi Văn N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, ngày 26/3/2024, N đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam ma túy loại Heroin và M1 tại khu vực tổ A, phường P, thành phố H nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Bùi Văn N đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và là nguyên nhân gây ra tội phạm khác. Bị cáo Bùi Văn N là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

  3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

    Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng lại phạm tội tương tự cho thấy ý thức của bị cáo chưa tốt hơn. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh của bị cáo phải một mình nuôi con (do đã ly hôn) như bị cáo trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

  4. Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn N, sinh năm: 1988 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 26/3/2024. Tại phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong còn nguyên vẹn có dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh H và chữ lý của các thành phần tham gia niêm phong, là chất bị cáo tàng trữ trái phép, đồng thời Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
  5. Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông tên Đ mà bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho Bùi Văn N, do bị cáo khai không biết đầy đủ tên tuổi, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người đàn ông, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để kết luận nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết trong vụ án này.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn N phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

    Xử phạt: bị cáo Bùi Văn N 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang, ngày 26/3/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Bùi Văn N, sinh năm: 1988 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 26/3/2024. Tại phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong còn nguyên vẹn có dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh H và chữ lý của các thành phần tham gia niêm phong.

    Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 120/BB/24 ngày 01/8/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND thành phố HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Công an thành phố HB;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án DS TPHB;
  • - Bị cáo.
  • - Lưu hồ sơ.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Đà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 102/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 13 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger