Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 102/2024/HS-PT

Ngày: 06-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông;

Ông Lê Khắc Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1994, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: 57/Đ9/KTĐC, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và con bà Nguyễn Thị H; Có vợ và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại: 57/Đ9/KTĐC, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo H1, H2 và bị hại không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 15/01/2023, Dương Công H3 (sinh ngày 01/7/2005) điều khiển xe mô tô không nhớ biển số, mượn của một người bạn tên Đ, không rõ địa chỉ đến quán C thuộc ấp T, xã T, huyện L uống nước. Tại đây, H3 nhìn thấy Dương Thiên T (sinh ngày 01/12/2006) ở gần khu vực phía trước cổng trường Trung học phổ thông (THPT) Lai Vung 3, cách quán khoảng 20 mét, H3 đi lại nắm lấy cổ áo của T và hỏi “Hôm trước mầy đánh em của tao phải không?”, T không trả lời mà dùng tay đẩy H3 ra và đánh trúng 02 cái vào mặt của H3, H3 dùng tay đánh trả lại T thì được Dương Quốc KNguyễn Huỳnh Minh Q1 là bạn của T can ngăn. Sau đó, H3 nói với T “Mầy ở đây đợi, tao về nhà lấy đồ đem lại chơi với mầy”.

Sau đó H3 điều khiển xe đến nhà của Nguyễn Tấn T1 thuộc ấp T, xã T, huyện L hỏi mượn dao tự chế nhưng không có. Lúc này, Nguyễn Quốc H4 (sinh ngày 01/02/2008) là người em quen biết với H3 đang ở nhà T1 nghe và biết được sự việc H3 có mâu thuẫn với người khác, nên Hiếu chủ đ ngồi lên phía sau xe và kêu H3 chở đi chung để giúp H3 đánh nhau thì được H3 đồng ý. Do không có hung khí, H3 tiếp tục điều khiển xe chở H4 đến nhà Nguyễn Văn Q thuộc ấp T, xã T, huyện L mượn Q 02 cây dao tự chế để đi đánh nhau. Do Q và H3 là anh em quen biết nên Q đồng ý rồi vào nhà lấy 02 cây dao tự chế đưa cho H4 giữ, H4 đưa H3 01 cây dao, còn lại H4 giữ 01 cây, cả hai giấu dao vào bên trong áo. Q hỏi H3 có cần Q và Đ1 lên giúp không, H3 trả lời tự H3 giải quyết được, Q còn nói với H3 khi xong chuyện thì ném bỏ dao luôn, để gặp chuyện phiền phức.

Sau đó, H3 chở H4 đến quán C, khi nhìn thấy T đứng gần khu vực trước cổng Trường THPT L 3 thì H3 cầm dao chạy tới chém 01 cái trúng xương đòn phải của T, T nắm được tay cầm dao của H3, H4 cầm dao chém trúng tay phải của T nên T buông tay ra và bỏ chạy đến quán cà phê G, cách cổng trường THPT L 3 khoảng 20 mét. H3 và H4 cầm dao đuổi theo chém T, T lấy ghế nhựa trong quán chống đỡ lại thì ghế bị bể, H3 và H4 tiếp tục chém trúng nhiều cái vào tay trái và tay phải của T, T bỏ chạy được khoảng 20 mét thì ngã gục xuống đường. Lúc này có nhiều người can ngăn

nên H3 và H4 không đuổi theo chém T mà vứt bỏ 02 con dao gần quán C1. Sau đó, H3 chở H4 đi về nhà H3, còn T được bạn bè, người thân đưa đến cơ sở y tế cấp cứu và điều trị đến ngày 17/01/2023 thì xuất viện.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Công an xã T, huyện L tiến hành xác minh và tạm giữ 01 con dao dài 57 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 30 cm, bề rộng 05 cm, cán dao bằng gỗ màu vàng nâu dài 27 cm và 01 con dao dài 51 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 37,5 cm, bề rộng 05 cm, cán dao bằng gỗ màu trắng dài 13,5 cm là hung khí của Dương Công H3Nguyễn Quốc H4 dùng để chém Dương Thiên T ném bỏ gần quán cà phê G.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 138/TgT, ngày 24/3/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận:

  • 03 Sẹo vết thương phần mềm vùng đốt ngón II bàn tay phải, đầu trong xương đòn phải, lòng bàn tay trái, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương mỗi sẹo 02%.
  • Sẹo mổ cắt cụt ngón V bàn tay phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%; Sẹo mổ + Sẹo vết thương phần mềm đốt gần ngón IV bàn tay phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%.
  • Sẹo mổ + Sẹo vết thương phần mềm đốt gần ngón II bàn tay phải, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 01%.
  • 04 sẹo vết thương phần mềm vùng đốt gần ngón III bàn tay phải, ngón III, ngón IV, ngón V tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương mỗi sẹo 01%.
  • Gãy đốt gần ngón II, ngón IV bàn tay phải, tỷ lệ tổn thương mỗi đốt 02%.
  • Mất trọn ngón V bàn tay phải, tỷ lệ tổn thương 07%.
  • Gãy đốt ngón IV, ngón V bàn tay trái, tỷ lệ tổn thương mỗi đốt 02%.
  • Tổn thương nhánh thần kinh trụ tay trái, tỷ lệ tổn thương 13%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Thiên T do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 36%, theo nguyên tắc cộng lùi. Các tổn thương trên do vật sắc bén gây ra.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn, đang là lao động chính nuôi con, đây là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và mức hình phạt 05 (năm) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Q giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Do Dương Công H3 có mâu thuẫn với Dương Thiên T nên khoảng 19 giờ, ngày 15/01/2023, H3 hỏi mượn Nguyễn Văn Q 02 cây dao tự chế, rồi cùng với Nguyễn Quốc H4 dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm chém T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 36%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q là nguy hiểm

cho xã hội. Bị cáo là người đủ tuổi lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào cơ thể người khác sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn giúp sức cho các bị cáo khác bằng cách cho mượn dao tự chế để đi chém bị hại và hậu quả đã làm bị hại T thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 36%. Bị cáo không trực tiếp thực hiện hành vi cố ý gây thương tích nhưng đã biết việc các bị cáo khác đi chém bị hại nhưng không can ngăn còn giúp sức nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vài trò đồng phạm trong vụ án.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cung cấp thêm xác nhận gia đình khó khăn, đang là lao động chính nuôi con, đây là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và mức hình phạt 05 (năm) năm tù là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên phần quyết định của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Văn Q là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn Q. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q mức án 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Lai Vung (02 bản);
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Lai Vung;
  • - Cơ quanTHAHS CA huyện Lai Vung;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 102/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger