Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HS-ST

Ngày: 04-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Huy Tưởng

Bà Dương Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt – Thư ký TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Đại diện VKSND thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt A – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/TLST-HS ngày 28/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST–HS ngày 19/4/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm 2003; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Đỗ Thị L1; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Trần Thị V – sinh năm 1953 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ dân phố C, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn L – sinh năm 1977 (có mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn T – sinh năm 2003 (vắng mặt)

Đều địa chỉ: thôn T, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

Người làm chứng: Bà Chu Thị Đ – sinh năm 1970 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang chưa được cấp Giấy phép lái xe mô tô theo quy định.

Tối ngày 26/10/2023, D tự ý lấy xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 98K1-007.74, dung tích xi lanh 97cm³ (viết tắt là xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74) của bố đẻ là ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977 điều khiển chở Nguyễn Văn T, sinh năm 2003 ở cùng thôn đi chơi. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 chở anh T ngồi sau đi trên đường T hướng xã Q (nay là phường Q) đi huyện H tới đoạn Km 15+450 đường T nơi ngã tư giao nhau giữa đường T với đường đi thôn C, xã N (nay là tổ dân phố C, phường N) và đường đi xã T, thuộc địa phận thôn C, xã N, huyện V (nay là tổ dân phố C, phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang thì phát hiện phía trước khu vực ngã tư theo hướng đi của D1 có biển báo hiệu khu vực ngã tư giao nhau với đường không ưu tiên; trong khu vực ngã tư có bà Trần Thị V, sinh năm 1953, trú tại tổ dân phố C, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Mometum theo hướng đi từ tổ dân phố C, đi qua đường T về hướng xã T (từ bên trái sang bên phải đường theo hướng đi của D1). Lúc này, D không làm chủ tốc độ, tiếp tục điều khiển xe mô tô đi với tốc độ theo D khai 40km/giờ để đi qua khu vực ngã tư nên để phần đầu xe mô tô đâm vào phần bên phải giữa xe đạp điện tại khu vực ngã tư đường giao nhau. Sau va chạm giao thông, hai phương tiện bị đổ, D, anh T và bà V ngã ra đường. Hậu quả, anh T không bị thương tích gì, bà V bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H rồi chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị đến ngày 09/11/2023 thì ra viện, D bị thương tích nhẹ chỉ đến Trung tâm Y tế thị xã V sơ cứu vết thương rồi tự điều trị tại nhà, hai phương tiện giao thông bị hư hỏng một phần.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện V (nay là thị xã V) đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, trưng cầu giám định thương tích của bà Trần Thị V, Nguyễn Văn D và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông:

Kết quả khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đoạn Km 15+450 đường T nơi ngã tư giao nhau giữa đường T với đường đi thôn C, xã N (nay là tổ dân phố C, phường N) và đường đi xã T thuộc địa phận thôn C, xã N, huyện V (nay là tổ dân phố C, phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng, phẳng rộng 11,1m được chia thành hai chiều đường xe chạy bằng một vạch sơn đứt quãng màu vàng ở giữa rộng 0,15m. Hai chiều đường xe chạy mỗi chiều đường được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 02m; 3,4m, 3,4m, 1,75m bằng hai vạch sơn liền màu trắng, mỗi vạch sơn rộng 0,20m. Theo chiều từ xã Q (nay là phường Q) đi huyện H, bên phải đường có lối đi xã T rộng 8,1m; bên trái đường có lối đi thôn C, xã N (nay là tổ dân phố C, phường N) rộng 8,3m. Tại hai đầu đoạn đường Tỉnh lộ 398 nơi xảy ra tai nạn giao thông bên phải đường có cắm biển báo nguy hiểm đường giao nhau

với đường không ưu tiên. Tại lối đi xã T và lối đi thôn C (nay là tổ dân phố C) bên phải đường có cắm biển báo nguy hiểm đường giao nhau với đường ưu tiên. Hai bên đường là nhà dân.

Phải, trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ xã Q (nay là phường Q) đi huyện H, lấy chân cột đèn cao áp số VĐ4/10A bên trái đường làm mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn. Trên hiện trường để lại:

Vết cầy xước trên mặt đường (ký hiệu số 1) kích thước (7,62 x 0,03)m, tâm đầu vết cầy cách mép đường bên phải 5,17m và cách đầu mép lối rẽ vào thôn C là 7,8m; tâm cuối vết cầy nằm dưới vị trí đầu để chân trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 và cách mép đường bên phải là 5,66m.

Vết cầy xước trên mặt đường (ký hiệu số 2) kích thước (2,85 x 0,02)m, tâm đầu vết cầy cách mép đường bên phải là 4,90m và cách tâm đầu vết cầy ký hiệu số 1 là 5m. T1 cuối vết cầy nằm dưới vị trí đuôi ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 và cách mép đường bên phải là 5,05m.

Xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 (ký hiệu số 3) đang đổ nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng mép đường bên trái, đuôi xe hướng mép đường bên phải; trục bánh trước xe mô tô cách mép đường bên phải 6,20m, trục bánh sau xe mô tô cách mép đường bên phải 5,20m.

Vết cầy xước trên mặt đường (ký hiệu số 4) kích thước (0,84 x 0,02)m, tâm đầu vết cầy cách mép đường bên phải 4,80m và cách tâm đầu vết cầy số ký hiệu số 2 là 2,4m; tâm cuối vết cầy cách mép đường bên phải là 4,83m và cách trục bánh sau xe đạp điện là 0,71m.

Xe đạp điện (ký hiệu số 5) đang đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe chếch hướng xã Q, đuôi xe chếch hướng huyện H; trục bánh trước cách mép đường bên phải 3,96m và cách tâm đầu vết cầy ký hiệu số 4 là 0,93m, trục bánh sau cách mép đường bên phải là 4,49m.

Bãi mảnh nhựa vỡ trên mặt đường (ký hiệu số 6) kích thước (8,5 x 5,0)m, tâm bãi mảnh nhựa vỡ cách mép đường bên phải 5,80m và cách trục bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 là 1,62m.

Bãi máu trên mặt đường (ký hiệu số 7) kích thước (2,2 x 1,0)m, tâm bãi máu cách mép đường bên phải 9,6m và cách trục bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 là 3,3m.

Bãi máu trên mặt đường (ký hiệu số 8) kích thước (0,4 x 0,2)m, tâm cách mép đường bên phải 6m và cách trục bánh sau của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 là 1,23m.

Khoảng cách từ trục bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 đến chân cột đèn chiếu sáng số VĐ4/10A bên trái đường được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông là 12,9m. Kết thúc khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn, Cơ quan điều tra đã thu giữ hai phương tiện giao thông cùng mảnh nhựa vỡ nêu trên để phục vụ công tác điều tra.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98K1-007.74 (màu sơn nâu) thể hiện: xe không có gương chiếu hậu bên phải. Đầu tay lái bên phải bị mài sát mòn cao su kích thước (0,04 x 0,03)m, tâm cách đất 0,97m. Ốp nhựa đầu xe bị tỳ nén, mài sát, mòn nhựa. Đèn xi nhan trước bên trái bị nứt vỡ kích thước (0,1 x 0,05)m, tâm cách đất 0,90m. Mặt ngoài bên phải giá đỡ giỏ xe để lại vết mài sát, mòn kim loại bám dính tạp chất màu đen kích thước (0,1 x 0,02)m, tâm cách đất 0,60m. Mặt ngoài bên phải đầu chắn bùn phía trước để lại vết mài sát mòn nhựa kích thước (0,1 x 0,02)m, tâm cách đất 0,49m. Mặt ngoài ốp nhựa vai xe bên phải để lại vết mài sát, mòn sơn kích thước (0,05 x 0,03)m, tâm cách đất 0,42m. Mặt ngoài giảm sóc trước bên phải để lại vết mài sát, mòn kim loại bám dính tạp chất màu đen kích thước (0,1 x 0,01)m, tâm cách đất 0,32m. Mặt ngoài bên phải đuôi chắn bùn phía trước để lại vết mài sát, mòn nhựa kích thước (0,12 x 0,05)m, tâm cách đất 0,35m. Vành bánh trước bị tỳ nén bẹp méo, cong vênh, đứt gãy nan hoa hướng từ ngoài vào trong kích thước (0,30 x 0,01)m, tâm cách chân van 0,28m. Bánh lốp phía trước bị xì hết hơi. Ốp bảo vệ lốc máy bên phải bị vỡ khuyết, mài sát bám dính tạp chất màu đen kích thước (0,12 x 0,06)m, tâm cách đất 0,27m. Để chân trước bên phải bị mài sát, mòn cao su, hở lõi sắt kích thước (0,02 x 0,02)m. Để chân sau bên phải bị mài sát, mòn cao su, hở lõi sắt kích thước (0,03 x 0,03)m. Mặt ngoài đuôi ống xả bị mài sát, mòn kim loại kích thước (0,03 x 0,01)m.

Kết quả khám nghiệm xe đạp điện nhãn hiệu Mometum (màu sơn trắng), thể hiện: Đầu tay phanh bên phải bị mài sát kim loại kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 1,04m. Giỏ xe phía trước bị bật khớp nối. Giá đỡ giỏ xe phía trước bị mài sát, mòn kim loại hướng từ phải sang trái kích thước (0,06 x 0,02)m, tâm cách đất 0,50m. Mặt ngoài bên phải khung xe phía trước để lại vết tỳ nén, bẹp lõm, mài sát kim loại bám dính tạp chất màu tím kích thước (0,24 x 0,02), tâm cách đất 0,57m hướng từ phải sang trái. Càng xe phía trước bị cong vênh hướng từ phải sang trái. Chắn bùn bánh trước bị vỡ nhựa. Ốp nhựa sàn để chân phía trước bị tỳ nén, nứt vỡ, mài sát mòn nhựa kích thước (0,50 x 0,13)m, tâm cách đất 0,20m. Đầu tay lái bên trái bị mài sát, mòn nhựa kích thước (0,03 x 0,03)m. Đầu tay phanh bên trái bị mài sát, mòn kim loại kích thước (0,01 x 0,01)m. Đầu để chân sau bên trái bị mài sát, mòn kim loại kích thước (0,02 x 0,01)m.

Tại Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện HTóm tắt hồ sơ Bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh B thể hiện bà Trần Thị V vào viện điều trị đa chấn thương do tai nạn giao thông, trong đó có các thương tích chính: chấn thương sọ não. Vỡ xương trán đỉnh phải di lệch. Vỡ xương trán lệch phải lan vào ổ mắt phải. Tràn máu-khí khoang màng phổi kèm đụng dập nhu mô phổi hai bên, chủ yếu bên phải. Gãy cung trước xương sườn 2, cung bên xương sườn từ 2 đến 8, cung sau xương sườn số 4 đến 11 bên phải. Gãy ngành chậu mu hai bên, gãy ngành ngồi mu bên phải. Gãy thân xương mu bên trái. Vỡ cách xương cùng bên phải. X-quang: vỡ mâm chày phải, gãy xương mác phải.

Tại Phiếu khám bệnh vào viện của Trung tâm y tế huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang thể hiện Nguyễn Văn D vào khám sơ cứu thương thương tích do tai nạn giao thông với các thương tích: mặt ngoài môi dưới có vết thương dài 3cm, bờ dập nát, nham nhở. Mặt trong môi dưới sát lợi có vết thương dài 2,5cm, sau 0,5cm, bờ nham nhở, chảy máu.

Tại bản Kết luận giám định số 2428/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Dấu vết trượt xước cao su, chùn cong kim loại tại lốp và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 12 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn nhựa, chùn cong kim loại tại bên phải ốp bệ để chân trước và bên phải khung bảo vệ bình ắc quy của xe đạp điện, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại tại giá đỡ giỏ xe, ốp bảo vệ giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74, có chiều hướng trước ra sau (ảnh số 7, 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết bẹp lõm, trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu tím (dạng sơn) tại bên phải khung xe phía trước, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 10 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).

2. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 với xe đạp điện trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải đường Tỉnh lộ 398 theo hướng xã Q đi huyện H.

3. Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 chuyển động theo hướng xã Q đi huyện H va chạm với xe đạp điện ở phía trước, đầu xe đạp điện hướng sang bên phải (tính theo chiều chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74).

4. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 với xe đạp điện gửi giám định, trên hai phương tiện không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác.”

Ngày 11/12/2023, Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể của bà Trần Thị VNguyễn Văn D.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1961/23/KLTTCT-TTPY ngày 25/12/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Trần Thị V tại thời điểm giám định là 80% (Tám mươi phần trăm). Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động mạnh.

Tại Kết luận giám định tổn thương trên Cơ thể người sống số 1962/23/KLTTCT-TTPY ngày 25/12/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D tại thời điểm giám định

là 4% (Bốn phần trăm). Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động nhẹ.

Ngày 26/10/2023, Cơ quan điều tra phối hợp cùng Đội Cảnh sát giao thông tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn D, kết quả D không có nồng độ cồn. Ngày 30/10/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành test kiểm tra ma túy đối với Nguyễn Văn D, kết quả D1 âm tính với các chất ma túy.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 206/K1-HĐĐGTS ngày 17/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V (nay là thị xã V), kết luận trị giá thiệt hại trong vụ tai nạn giao thông của: xe mô tô, biển kiểm soát 98K1-007.74 là 1.900.000 đồng, xe đạp điện nhãn hiệu Mometum là 850.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Nguyễn Văn Doanh ra trước Toà án nhân dân thị xã Việt Yên để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và sai.

Ông Nguyễn Văn L trình bày: ông là bố đẻ của bị cáo. Việc bị cáo tham gia giao thông và gây tai nạn giao thông như thế nào ông không nắm được. Bị cáo chưa có giấy phép lái xe nên ông chưa bao giờ giao xe cho bị cáo quản lý và sử dụng. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 là của ông, khi bị cáo lấy xe đi ông không biết, bị cáo không nói gì với ông. Sau khi xẩy ra tai nạn, bị cáo có nhờ ông bồi thường cho bị hại, ông đã bồi thường cho cho bị hại 60.000.000 đồng, số tiền này là của ông, ông tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo, ông không yêu cầu bị cáo trả lại cho ông. Đối với chiếc xe có bị hư hỏng một phần, ông đã sửa chữa lại, ông không yêu cầu bị cáo phải trả ông số tiền ông đã sửa xe.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ, bị cáo không có có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 02 năm đến 02 năm 04 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nhựa vỡ màu đen kích thước (0,4x0,3)m.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo, ông Nguyễn Văn L không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử cho nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn D chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/10/2023, tại Km 15+450 đường Tỉnh lộ 398 nơi ngã tư giao nhau giữa đường T là đường ưu tiên với đường không ưu tiên đi thôn C, xã N (nay là tổ dân phố C, phường N) và đường đi xã T, thuộc địa phận thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, phía trước các đầu đường có cắm biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 98K1-007.74, dung tích xi lanh 97cm³ đi trên đường T hướng xã Q (nay là phường Q) đi huyện H nhưng không chấp hành báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ (vi phạm khoản 9 Điều 8, Điều 9, 11, 12, Điều 58 Luật giao thông đường bộ) nên để phần đầu xe mô tô đâm vào phần sườn bên phải giữa xe đạp điện nhãn hiệu Mometum do bà Trần Thị V đang điều khiển đi từ bên trái sang bên phải đường Tỉnh lộ 398 theo hướng đi của D, trong khu vực đường giao nhau. Hậu quả, bà V bị thương tích 80% sức khỏe, D bị thương tích 04% sức khỏe, hai phương tiện bị hư hỏng một phần với tổng trị giá thiệt hại 2.750.000 đồng.

[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 27/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, trong quá trình tham gia giao thông bị cáo không làm chủ tốc độ, không chấp hành báo hiệu đường bộ cảnh báo nguy hiểm nên để bánh xe phía trước do bị cáo điều khiển va chạm vào phần sườn giữa xe của bị hại làm bị hại bị thương tích với tỷ lệ 80%. Hành vi đó không những xâm phạm đến sức khỏe của bị hại mà ảnh hưởng trực tiếp trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, cần xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.

[6] Xét về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xử lý pháp luật hình sự lần nào.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, tai nạn giao thông xẩy ra có một phần lỗi của bị hại, bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo điều khiển xe tham gia giao thông khi chưa có giấy phép lái xe điều này thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Nên cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, mới đủ để răn đe và giao dục bị cáo. Tuy nhiên việc bị cáo phạm tội có một phần lỗi của bị hại, bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, áp dụng một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo.

Xét về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo, cần áp dụng một mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường cho bà Trần thị V1 số tiền 60.000.000 đồng, hiện bà V1 không yêu cầu bồi thường khoản tiền gì khác. Ông L không yêu cầu bồi thường xe mô tô bị hư hỏng. Doanh không yêu cầu bà V1 bồi thường về thương tích của D. Anh Tú không bị thương tích gì nên không yêu cầu bồi thường dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển kiểm soát 98K1-007.74 là tài sản của ông Nguyễn Văn L; xe đạp điện nhãn hiệu Mometum là tài sản của bà Trần Thị V. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông L, trả xe đạp điện cho bà V, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 01 mảnh nhựa vỡ màu đên, kích thước (0,4x0,3)m, có giá trị thấp cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với ông Nguyễn Văn L không giao xe mô tô cho D, khi D lấy xe đi thì ông L không biết nên không có căn cứ để xử lý về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển tham gia giao thông đường bộ.

Trong vụ tai nạn giao thông có một phần lỗi của bà Trần Thị V là người điều khiển xe đạp điện từ đường không ưu tiên ra đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho phương tiện đi trên đường ưu tiên nên vi phạm Điều 24 Luật Giao thông đường bộ.

[11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ngoài ra, cần áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nhựa vỡ màu đen có kích thước (0,4x0,3)m

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 BLTTHS

    Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - THAHS; THADS;
  • - Công an thị xã Việt Yên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 102/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger