|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 102/2024/DS-ST Ngày: 02/8/2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hiền;
- Ông Mai Huy Mân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Quốc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 274/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1983, (có mặt);
Địa chỉ thường trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ hiện nay: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Phạm Công V, sinh năm 1984, (có mặt);
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ghi ngày 06/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Minh H trình bày:
Anh là hụi viên có tham gia góp hụi do anh Phạm Công V làm đầu thảo, trong danh sách hụi anh Văn g tên anh là H, cụ thể các dây hụi như sau:
- Dây hụi thứ 1, hụi mùa vụ 2, anh V ghi dây hụi này là dây hụi số 11 (Một năm khui 04 mùa), hụi khui ngày 20/5/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 3.000.000 đồng, hụi sống đóng 2.000.000 đồng, hụi chết đóng 3.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng. Dây hụi này gồm 20 phần, anh tham gia 01 phần. Anh đã đóng được 12 kỳ hụi sống thì anh Văn n không khui hụi nữa cho đến nay. Trong dây hụi này anh V nợ anh số tiền hụi là 24.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 2, hụi mùa vụ 2, anh V ghi dây hụi này là dây hụi số 12 (Một năm khui 04 mùa), hụi khui ngày 20/5/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 3.000.000 đồng, hụi sống đóng 2.000.000 đồng, hụi chết đóng 3.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng. Dây hụi này gồm 20 phần, anh tham gia 01 phần. Anh đã đóng được 12 kỳ hụi sống thì anh Văn n không khui hụi nữa cho đến nay. Trong dây hụi này anh V nợ anh số tiền hụi là 24.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 3, hụi mùa vụ 3, anh V ghi dây hụi này là dây hụi số 13 (Một năm khui 04 mùa), hụi khui ngày 20/8/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 5.000.000 đồng, hụi sống đóng 3.500.000 đồng, hụi chết đóng 5.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng. Dây hụi này gồm 21 phần, anh tham gia 01 phần. Anh đã đóng được 11 kỳ hụi sống thì anh Văn n không khui hụi nữa cho đến nay. Trong dây hụi này anh V nợ anh số tiền hụi là 38.500.000 đồng.
- Dây hụi thứ 4, H1 vụ mùa đông xuân 2019, anh V ghi dây hụi này là dây hụi số 14, hụi khui ngày 20/02/2019 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 5.000.000 đồng, hụi sống đóng 3.500.000 đồng, hụi chết đóng 5.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng. Dây hụi này gồm 21 phần, anh tham gia 01 phần. Anh đã đóng được 09 kỳ hụi sống thì anh Văn n không khui hụi nữa cho đến nay. Trong dây hụi này anh V nợ anh số tiền hụi là 31.500.000 đồng.
Như vậy, tổng cộng 04 dây hụi trên anh V còn nợ anh số tiền là 118.000.000 đồng. Sau đó, anh V có trả cho anh được 14.000.000 đồng, còn lại 104.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi đối chiếu lại số nợ với anh V thì anh V còn nợ lại anh số tiền cụ thể như sau: Dây hụi thứ 1 khui ngày 20/5/2018 âm lịch, anh V còn nợ anh 1 kỳ hụi sống là 22.000.000 đồng; Dây hụi thứ 2 khui ngày 20/5/2018 âm lịch, anh V còn nợ anh 1 kỳ hụi sống là 22.000.000 đồng; Dây hụi thứ 3 khui ngày 20/8/2018 âm lịch, anh V còn nợ anh 11 kỳ hụi sống là 35.000.000 đồng; Dây hụi thứ 4, khui ngày 20/02/2019 âm lịch, anh V còn nợ anh 0 kỳ hụi sống là 28.000.000 đồng.
Do đó, anh có xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, anh xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền hụi là 11.000.000 đồng. Nay anh chỉ khởi kiện yêu cầu anh Phạm Công V phải trả cho anh số tiền nợ hụi là 93.000.000 đồng, yêu cầu trả 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
* Theo bản tự khai ngày 16/7/2024, biên bản hòa giải ngày 16/7/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Phạm Công V trình bày:
Anh Nguyễn Minh H có tham gia 04 dây hụi do anh làm đầu thảo như lời trình bày của anh H là đúng. Tuy nhiên, số kỳ hụi mà anh H đóng cho anh cụ thể như sau:
- Dây hụi thứ 1, hụi mùa vụ 2, hụi khui ngày 20/5/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 3.000.000 đồng, hụi sống đóng 2.000.000 đồng, hụi chết đóng 3.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng. Dây hụi này anh H đã đóng được 11 kỳ thì anh ngưng hụi cho đến nay. Trong dây hụi này anh còn nợ anh H 22.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 2, hụi mùa vụ 2, hụi khui ngày 20/5/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 3.000.000 đồng, hụi sống đóng 2.000.000 đồng, hụi chết đóng 3.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.000.000 đồng. Dây hụi này anh H đã đóng được 11 kỳ thì anh ngưng hụi cho đến nay. Trong dây hụi này anh còn nợ anh H 22.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 3, hụi mùa vụ 3, hụi khui ngày 20/8/2018 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 5.000.000 đồng, hụi sống đóng 3.500.000 đồng, hụi chết đóng 5.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng. Dây hụi này anh H đã đóng được 10 kỳ thì anh ngưng hụi cho đến nay. Trong dây hụi này anh còn nợ anh H 35.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ 4, H1 vụ mùa đông xuân 2019, hụi khui ngày 20/02/2019 (âm lịch), mỗi phần hụi trị giá 5.000.000 đồng, hụi sống đóng 3.500.000 đồng, hụi chết đóng 5.000.000 đồng, tiền đầu thảo là 1.500.000 đồng. Dây hụi này anh H đã đóng được 08 kỳ thì anh ngưng hụi cho đến nay. Trong dây hụi này anh còn nợ anh H 28.000.000 đồng.
Anh xác định số tiền hụi mà anh còn nợ anh Nguyễn Minh H là 93.000.000 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên anh xin trả dần cho anh H mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết số tiền 93.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh H tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 11.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc yêu cầu anh Phạm Công V trả số tiền 11.000.000 đồng.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh H yêu cầu bị đơn anh Phạm Công V trả số tiền hụi, anh Phạm Công V có địa chỉ tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[3] Về nội dung vụ án:
3.1. Xét giao dịch dân sự về việc tham gia góp hụi giữa anh H với anh V có lập thành văn bản, nội dung thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định pháp luật, được hai bên thống nhất thừa nhận nên Hội đồng xét xử công nhận.
3.2. Xét thấy nguyên đơn anh H khởi kiện yêu cầu bị đơn anh V trả số tiền nợ hụi là có căn cứ bởi: Trong giao dịch góp hụi trên, anh H là hụi viên đã thực hiện góp hụi theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Tại phiên tòa, anh V thống nhất với anh H về số kỳ hụi mà anh H đã đóng cho anh V và hiện anh còn nợ anh H số tiền của 04 dây hụi trên là 93.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh V xin trả dần mỗi tháng trả 500.000 đồng cho đến khi hết số tiền 93.000.000 đồng. Điều này không được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận.
Do đó, căn cứ Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh V phải hoàn trả lại cho anh H số tiền đã góp hụi là 93.000.000 đồng, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 357, khoản 3 Điều 428; Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 2 Điều 16, Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc yêu cầu anh Phạm Công V trả số tiền 11.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H.
- Buộc anh Phạm Công V phải trả cho anh Nguyễn Minh H số tiền nợ hụi là 93.000.000 đ (Chín mươi ba triệu đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày anh Nguyễn Minh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Phạm Công V chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và khoảng thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí:
- - Anh Phạm Công V phải chịu 4.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn lại cho anh Nguyễn Minh H số tiền 2.600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002842 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Thị Mỹ Nhanh |
Bản án số 102/2024/DS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 102/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H. Buộc anh Phạm Công V phải trả cho anh Nguyễn Minh H số tiền nợ hụi là 93.000.000 đ (Chín mươi ba triệu đồng), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
