|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc --- |
|
Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày: 01-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Ngọc Tiến;
- Ông Phạm Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hoan- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 28/4/1989 tại tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F đường C Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số F đường C Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1959) và bà: Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1961); Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH MTV T4
Trụ sở: Số F đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H - Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn H và cộng sự thuộc đoàn Luật sư Thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc N về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” xảy ra tại Công ty TNHH T5, địa chỉ: H N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra phát hiện Nguyễn Thị Thanh T, là Chủ tịch Hội đồng quản trị, người đại diện pháp luật Công ty TNHH Một thành viên T4 (gọi tắt là Công ty T4), địa chỉ: 6, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi mua hoá đơn giá trị gia tăng khống, để hợp thức hóa đầu vào của Công ty T4 làm giảm số tiền thuế phải nộp. Công ty T4 hoạt động kinh doanh trên địa bàn Quận A, chịu quản lý thuế của Chi cục T6 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 giải quyết theo thẩm quyền đối với hành vi trốn thuế của Nguyễn Thị Thanh T.
Qua kết quả điều tra xác định được, Công ty T4 được thành lập, hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0312953706, do Sở K cấp, đăng ký lần đầu ngày 02/10/2014, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 09/4/2019, do bà Nguyễn Thị Thanh T, người đại diện pháp luật; vốn điều lệ của Công ty là 3.500.000.000 đồng; ngành nghề kinh doanh chính là quảng cáo, tổ chức sự kiện.
Quá trình hoạt động, một số lượng hàng hoá dịch vụ mà Công ty T4 mua từ bên bán không cung cấp được hoá đơn, dẫn tới việc thiếu hoá đơn đầu vào. Khoảng tháng 6/2018, T chủ động tìm kiếm trên mạng internet để mua hoá đơn giá trị gia tăng khống, nhằm hợp thức hoá hàng hoá mua vào cho Công ty T4 để làm giảm số tiền thuế phải đóng cho Nhà nước. Tuyền liên lạc qua một người phụ nữ tên L số điện thoại 0908.156.xxx (không rõ lai lịch) mua hoá đơn giá trị gia tăng khống, với giá 06% giá trị hàng hoá trước thuế trên một hoá đơn. Tổng cộng, T đã mua từ L 09 tờ hóa đơn giá trị gia tăng của 03 Công ty, với tổng trị giá hàng hoá trước thuế là 2.742.515.000 đồng, tiền thuế giá trị gia tăng là 274.251.500 đồng, cụ thể:
Mua 05 tờ hóa đơn giá trị gia tăng ghi khống nội dung của Công ty TNHH T5 - MST: 0314751046, trụ sở tại H N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Viết tắt Công ty T5), tổng trị giá hàng hoá trước thuế là 297.650.000 đồng, thuế giá trị gia tăng là 29.515.000 đồng, cụ thể:
- - Hóa đơn GTGT số 0000226 ngày 30/10/2018, ghi khống nội dung “thi công gian hàng”, trị giá trước thuế 33.000.000 đồng, trị giá sau thuế 36.300.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 1.980.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số 0000966 ngày 24/12/2018, ghi khống nội dung “thi công chương trình tại Trung tâm H2, Hợp đồng khống số 874/2018/HĐKT/HT", trị giá trước thuế 77.500.000 đồng, trị giá sau thuế 85.250.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 4.650.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số 0000351 ngày 30/6/2018, ghi khống nội dung “cước vận chuyển”, trị giá trước thuế 100.000.000 đồng, trị giá sau thuế 110.000.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 6.000.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số 0000521 ngày 20/11/2018, ghi khống nội dung “Thi công sự kiện chương trình ngày 23/11/2018”, trị giá trước thuế 67.150.000 đồng, trị giá sau thuế 73.865.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 4.029.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số 0000522 ngày 20/11/2018, ghi khống nội dung “Thi công backdrop, standee", trị giá trước thuế 20.000.000 đồng, trị giá sau thuế 22.000.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 1.200.000 đồng
Mua 03 số hóa đơn GTGT ghi khống nội dung của Công ty TNHH T7 - MST: 0315655881, trụ sở tại: A T, ấp B, xã B, huyện C, TP . (Viết tắt Công ty T7), tổng trị giá hàng hoá trước thuế là 2.394.865.000 đồng, thuế GTGT là 239.486.500 đồng, cụ thể:
- - Hóa đơn GTGT số 0000571 ngày 29/7/2019, ghi khống nội dung “Tổ chức chương trình PVOIL tại Vũng Tàu đính kèm Hợp đồng số 0207/HĐKT/2019-HT”, trị giá trước thuế 333.550.000 đồng, trị giá sau thuế 366.905.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 20.013.000 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số 0000572 ngày 29/7/2019, ghi khống nội dung “Tổ chức chương trình Lễ ra quan TNR Thoại Sơn đính kèm Hợp đồng số 0107/HĐKT/2019-HT”, trị giá trước thuế 117.115.000 đồng, trị giá sau thuế 128.826.500 đồng; chi phí mua hoá đơn là 7.026.900 đồng.
- - Hóa đơn GTGT số số 0000011 ngày 17/5/2019, ghi khống nội dung “Xuất theo Hợp đồng số 0119_HĐDV_2019_HT về việc sản xuất vật phẩm Đ”, trị giá trước thuế 1.944.200.000 đồng, trị giá sau thuế 2.138.620.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 116.652.000 đồng.
Mua 01 hóa đơn GTGT số 0000624 ngày 28/6/2019 của Công ty TNHH X - MST: 0313764691, trụ sở tại 2/17 đường A, Khu phố E, phường L, quận T, TP . (Viết tắt Công ty X), ghi khống nội dung “Cước vận chuyển tháng 6 theo đơn đặt hàng số 002/2019/ĐĐH-HT”, trị giá trước thuế 50.000.000 đồng, trị giá sau thuế 55.000.000 đồng; chi phí mua hoá đơn là 3.000.000 đồng.
Để hợp thức việc mua bán hoá đơn khống, T và đối tượng bán hoá đơn đã hợp thức bằng các Hợp đồng kinh tế; Biên bản nghiệm thu kèm theo được ký kết giữa 03 công ty “ma” Công ty T5, Công ty T7, Công ty X với Công ty T4 do T ký đại diện công ty. Để hợp thức dòng tiền thành toán các giao dịch khống trên, T ký các uỷ nhiệm chi, chuyển tiền từ tài khoản Công ty T4 tại Ngân hàng A hoặc tại Ngân hàng B đến các tài khoản của các Công ty đã nêu trên, cụ thể:
Ngày 07/5/2019, ủy nhiệm chi sử dụng tài khoản 188501149 mở tại Ngân hàng A chuyển số tiền 327.415.000 đến số tài khoản 060168591831 mở tại S của Công ty T5; Ngày 29/7/2019, uỷ nhiệm chi chuyển số tiền 55.000.000 đồng đến số tài khoản 060172256751 mở tại S của Công ty X. Các ngày 07/6/2019, 13/6/2019,14/6/2019 và 17/9/2019, ủy nhiệm chi, sử dụng tài khoản số 147011847077000 mở tại Ngân hàng B chuyển số tiền 2.634.351.500 đồng đến số tài khoản 060217643778 mở tại S của Công ty T7.
Sau đó, L cho người (không rõ thông tin lai lịch) mang tiền mặt đưa lại cho T, sau khi đã trừ đi số tiền mua hoá đơn, là 06% giá trị trước thuế ghi trên hoá đơn. Sau khi mua được 09 hóa đơn khống nêu trên, T đưa cho nhân viên kế toán của Công ty T4 là Nguyễn Thị Kim T3 làm hồ sơ kê khai báo cáo thuế vào kỳ tính thuế giá trị gia tăng quý II-2018, quý IV-2018, quý II-2019, quý III-2019; kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2018 và năm 2019 của Công ty T4, với tổng số tiền thuế GTGT kê khai khấu trừ là: 274.251.500 đồng, tổng số tiền đã khai chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là 2.742.515.000 đồng.
Qua điều tra xác định, các Công ty T5, Công ty T7, Công ty X và một số Công ty khác, do Nguyễn Ngọc N mua Chứng minh nhân dân tại khu vực chợ H3 Quận A (không nhớ người bán), sử dụng các chứng minh nhân dân trên và thuê dịch vụ trên mạng internet (không quen biết) để làm thủ tục thành lập, hoàn toàn không kinh doanh mà để bán hoá đơn giá trị gia tăng khống cho các doanh nghiệp có nhu cầu mua hoá đơn giá trị gia tăng khống. N bán hoá đơn giá trị gia tăng khống cho người mua với giá 1,3% giá trị hoá đơn trước thuế. Công ty T5 (0314751046), Công ty X (MST: 0313764691), Công ty T7 (MST: 0315655881) đã xuất khống 09 hoá đơn giá trị gia tăng cho Công ty T4, không có hàng hoá mua bán thật theo từng hoá đơn. Bà T không trao đổi mua hoá đơn trực tiếp từ N mà mua qua trung gian (không rõ thông tin lai lịch). N không quen biết và không có mối quan hệ với người tên L và bà T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã có Quyết định trưng cầu giám định hành vi trốn thuế, loại thuế, số tiền thuế trốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty T4. Kết luận giám định về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuế ngày 13/11/2023 của bà Nhữ Thị H1 (Phó Đội trưởng, Chi cục Thuế Khu vực Q2 – Nhà B) là giám định viên về thuế, xác định: “Công ty TNHH MTV T4 (MST: 0312953706) sử dụng 09 hoá đơn GTGT không hợp pháp để hạch toán và kê khai thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào được khấu trừ số tiền 274.251.500 đồng, kê khai chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp số tiền 2.742.515.000 đồng đã dẫn đến làm giảm số tiền thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là hành vi trốn thuế với số tiền thuế trốn là 818.932.142 đồng, trong đó: số tiền trốn thuế giá trị gia tăng là 274.251.500 đồng, số tiền trốn thuế thu nhập doanh nghiệp là 544.680.642 đồng”.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Thanh T về tội “Trốn thuế”. Tại Cơ quan điều tra bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bà Nguyễn Thị Kim T3 khai nhận, làm nhân viên kế toán, chức vụ: kế toán trưởng Công ty T4, từ năm 2016 đến nay, làm việc thường xuyên tại Công ty T4. Tuyến có kiểm tra thông tin trên mạng internet và trang web của Cục T8 đối với các Công Ty T5, Công ty X, Công ty T7 về tình hình hoạt động và thấy các Công ty trên hiện đang hoạt động, vẫn chịu sự quản lý và đóng thuế tại các cơ quan thuế sau đó thông tin nội dung trên đến cho bà T. Tuyến không tham gia vào hoạt động giao dịch kinh doanh của Công ty T4, không biết việc bà T mua 09 hoá đơn giá trị gia tăng khống trên để hợp thực hoá đầu vào làm giảm số thuế phải đóng.
Kết quả xác minh số điện thoại 0908.156.xxx do ông Mai Tiến L1 - sinh năm: 2000; HKTT: 2 Đà Nẵng, phường C, quận N, Thành phố Hải Phòng, là chủ thuê bao. Ông L1 khai không biết, không liên quan đến việc Nguyễn Thị Thanh T mua hóa đơn khống trên, không có mối quan hệ với những người trên. Ông L1 không sử dụng số điện thoại 0908.156.xxx.
Ngày 13/7/2023, Công ty T4 đã kê khai bổ sung thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi loại 09 hóa đơn nêu trên với Cơ quan thuế và chuyển vào tài khoản của Cơ quan thuế số tiền 954.490.331 đồng, cụ thể: Ngày 13/7/2023, nộp 19.765.000 đồng tiền thuế GTGT Quý 4/2018; ngày 17/7/2023, nộp 199.420.000 đồng tiền thuế GTGT Quý 2/2019; ngày 21/7/2023, nộp 55.066.500 đồng tiền thuế GTGT Quý 2/2018 và Q 3/2019, số tiền; ngày 17/7/2023, nộp 9.599.861 đồng tiền chậm nộp thuế GTGT Quý 4/2018; ngày 19/7/2023, nộp 86.029.788 đồng tiền thuế GTGT Quý 2/2019; ngày 14/7/2023, nộp 22.157.535 đồng tiền thuế TNDN năm 2018; ngày 17/7/2023, nộp 406.395.560 đồng tiền thuế TNDN năm 2019; ngày 17/7/2023, nộp 10.363.079 đồng tiền chậm nộp thuế TNDN năm 2018; ngày 19/7/2023, nộp 145.692.808 đồng tiền chậm nộp thuế TNDN năm 2019.
Vật chứng vụ án:
- - 05 tờ hóa đơn giá trị gia tăng: số 0000226 ngày 30/10/2018, số 0000966 ngày 24/12/2018, số 0000351 ngày 30/6/2018, số 0000521 ngày 20/11/2018, số 0000522 ngày 20/11/2018 của Công ty TNHH T5.
- - 03 tờ hóa đơn GTGT số 0000571 ngày 29/7/2019, số 0000572 ngày 29/7/2019, số 0000011 ngày 17/5/2019 của Công ty TNHH T7.
- - 01 hóa đơn GTGT số 0000624 ngày 28/6/2019 của Công ty TNHH X.
Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKSQ10 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khắc phục hậu quả của bị cáođã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 700.000.000 đồng – 800.000.000 đồng về tội “Trốn thuế”.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Luật sư Nguyễn Văn H bào chữa cho bị cáo: Luật sư đồng ý với tội danh và điều luật truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 51 giảm nhẹ hình phạt, xét xử bị cáo ở mức phạt đầu khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ý kiến của bị cáo: Thống nhất với ý kiến bào chữa của luật sư. Hiện nay tình hình kinh tế khó khăn, mong hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt bị cáo ở mức đầu khung hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] ]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay,bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 6/2018 đến tháng 07/20219, Nguyễn Thị Thanh T là Chủ tịch Hội đồng quản trị - người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV T4 đã mua 09 tờ hóa đơn giá trị gia tăng khống (không có hàng hóa dịch vụ kèm theo) của 03 Công ty do Nguyễn Ngọc N lập ra nhằm mục đích giảm tiền thuế phải nộp cho ngân sách nhà nước. Qua hoạt động hợp thức hóa đơn Giá trị gia tăng đầu vào, Nguyễn Thị Thanh T đã trốn thuế với số tiền là 818.932.142 đồng. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Trốn thuế”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 200 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật.
[3] Việc áp dụng khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về định khung hình phạt: Tổng số tiền bị cáo trốn thuế là 818.932.142 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo đã nộp toàn bộ tiền thu lợi bất chính cho cơ quan thuế nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm khách thể là trật tự quản lý kinh tế, làm giảm thu ngân sách Nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chínhđể khắc phục hậu quả, đồng thời đã nộp thêm sao kê tài khoản có số dư 778.951.735 đồng tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh H4 đã chứng minh được khả năng thi hành án nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
[4] Đối với Nguyễn Thị Kim T3 là kế toán trưởng Công ty T4, từ năm 2016 đến nay, làm việc thường xuyên tại Công ty T4. Tuyến chỉ kiểm tra thông tin trên mạng internet và trang web của Cục T8 đối với các công ty T5, công ty X, công ty T7 về tình hình hoạt động và thấy các công ty trên hiện đang hoạt động, vẫn chịu sự quản lý và đóng thuế, Tuyến thông tin nội dung trên cho bà T. Tuyến không tham gia vào hoạt động giao dịch kinh doanh của Công ty T4, không biết việc bà T mua 09 hoá đơn giá trị gia tăng khống trên để hợp thực hoá đầu vào làm giảm số thuế phải đóng nên không có căn cứ xử lý hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
- Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 09 tờ hóa đơn giá trị gia tăng.
- Đối với số tiền trốn thuế 818.932.142 đồng Công ty TNHH MTV T4 đã khắc phục kê khai, nộp tiền bổ sung tại Chi cục thuế T6 (Theo các chứng từ HCM1723232973637 ngày 13/7/2023; HCM1723233012180 ngày 17/7/2023; HCM1723233013683 ngày 17/7/2023; HCM1723233044298 ngày 19/7/2023; HCM1723233101710 ngày 21/7/2023; HCM1723232975765 ngày 14/7/2023; HCM1723233012582 ngày 17/7/2023; HCM1723233044422 ngày 19/7/2023; HCM1723233013844 ngày 17/7/2023). Công ty T4 đã đóng đủ số tiền thuế phải nộp.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Trốn thuế”. Phạt tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng.
Phong tỏa số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng trong tài khoản số 0721000524757, tên tài khoản: Nguyễn Thị Thanh T mở tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh H4 để bảo đảm thi hành án.
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- + 05 tờ hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH T5 số 0000226 ngày 30/10/2018; số 0000966 ngày 24/12/2018; số 0000351 ngày 30/6/2018; số 0000521 ngày 20/11/2018; số 0000522 ngày 20/11/2018.
- + 03 tờ hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH T7 số 0000571 ngày 29/7/2019; số 0000572 ngày 29/7/2019; số 0000011 ngày 17/5/2019.
- + 01 tờ hóa đơn giá trị gia tăng số 0000624 ngày 28/6/2019 của Công ty TNHH X.
- - Số tiền 818.932.142 đồng trốn thuế Công ty TNHH MTV T4 đã khắc phục. Công ty T4 đã đóng đủ.
(Theo các chứng từ HCM1723232973637 ngày 13/07/2023; HCM1723233012180 ngày 170/07/2023; HCM1723233013683 ngày 17/07/2023; HCM1723233044298 ngày 19/07/2023; HCM1723233101710 ngày 21/7/2023; HCM1723232975765 ngày 14/7/2023; HCM1723233012582 ngày 17/7/2023; HCM1723233044422 ngày 19/7/2023; HCM1723233013844 ngày 17/7/2023 tại Chi cục thuế T6, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Hiếu Hạnh |
Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trốn thuế
- Số bản án: 102/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T. bị VKSNDQ10 truy tố về tội trốn thuế
