Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HS-ST

Ngày: 29/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Chu Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Ngọc Kim

+ Ông Trương Minh Thọ

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Toà án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2025/TLST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ, sinh năm: 2001, tại: Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Số nhà A H - Đ, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Số nhà C đường L, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1977; Con bà: Cao Thị H, sinh năm 1982; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại tại: Số nhà C đường L, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1993, tại: Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Phố L, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Số A đường N, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1965; Con bà: Phạm Thị V, sinh năm 1964; Vợ: Mai Thị Huyền T2, sinh năm: 2001; Bị cáo có 02 người con sinh năm 2021 và 2023; Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại tại Số A đường N, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Phan Thị Mai K, sinh năm: 1981; địa chỉ: Hẻm B L, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Bà Đặng Thị Nguyệt T3, sinh năm: 1978; địa chỉ: 1 T - phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi hiện tại: Số C đường P, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Phan Trần K1, sinh năm: 1980; địa chỉ: Q, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Bà Đinh Thu T4, sinh năm: 1990; địa chỉ: P - Chung cư N, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Phạm Đức T5, sinh năm: 1995; địa chỉ: Số A đường N, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Hồ Văn P, sinh năm: 1989; địa chỉ: khu T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Nguyễn Tấn H1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Hẻm A nhà số D đường T, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Nguyễn Thanh T6, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số G đường C, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 08/2024, Nguyễn Xuân Đ vào Lâm Đồng và ở tại địa chỉ hẻm A N - Phường L - Đ, Lâm Đồng cùng Nguyễn Văn D là người quen ở quê thực hiện việc cho vay lãi cao để thu lợi. Để thực hiện việc cho vay của bản thân, Đông tự lên mạng xã hội Facebook để chạy quảng cáo cho việc vay tiền của mình. Quá trình làm việc tại Lâm Đồng thì Đ đưa cho D giữ dùm số tiền 70.000.000 đồng, khi nào có khách tiền của Đ thì Đ nói D chuyển tiền cho người vay. Khi có người vay liên hệ qua Facebook thì Đ yêu cầu người vay để lại số điện thoại cụ thể và tư vấn gói vay qua ứng dụng Zalo, sau đó Đ sử dụng tài khoản Zalo cá nhân có số điện thoại “0946.223.xxx” – tên tài khoản “Cu Bờm” kết bạn với người vay và tư vấn cụ thể về khoản vay. Khi người vay đồng ý vay tiền thì Đ đến nhà theo địa chỉ người vay cung cấp để xác minh cụ thể về khả năng trả tiền và yêu cầu người vay cung cấp giấy tờ tùy thân sau đó Đ nói với D chuyển tiền cho người vay đồng thời thu tiền hàng ngày đối với những người này cho Đ.

Hình thức Đ và D cho vay là người vay trả góp cả gốc và lãi theo ngày, số tiền trả góp mỗi ngày tùy theo số tiền vay, thời hạn trả. Số tiền cao nhất Đ và D cho một người vay là 5.000.000 đồng, số tiền cao nhất là 20.000.000 đồng với lãi suất cho vay từ 37%/tháng đến 82%/tháng (tương đương với 445%/năm đến 984%/năm). Thời hạn người vay phải trả góp là 21 ngày.

Căn cứ lời khai nhận của Nguyễn Xuân Đ, Nguyễn Văn D, lời khai, đối chất của những người đã vay tiền xác định Đ và D đã cho 9 người vay tiền. Cụ thể như sau:

Nguyễn Xuân Đ đã cho 05 người vay tiền (đã xác minh nhân thân, lai lịch và lấy lời khai ). Quá trình cho vay, Đ là người liên hệ và xác minh người vay, D là người chuyển tiền cho vay và thu tiền gốc lãi hàng ngày của người vay.

1. Phan Thị Mai K – SN: 1981 – địa chỉ: Hẻm B L, Phường X, Đ, Lâm Đồng, vay 5 lần:

  • Lần 1: Vào ngày 27/8/2024, bà K vay số tiền 15.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng, bà K đã trả đủ với số tiền: 18.900.000 đồng. Tổng số tiền lãi bà K đã trả là 3.900.000 đồng (lãi hợp pháp là 175.000 đồng, lãi bất hợp pháp là 3.725.000 đồng).
  • Lần 2: Vào ngày 16/9/2024, bà K tiếp tục vay số tiền 20.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 1.200.000 đồng. Đông thu tiền phí: 1.000.000 đồng, bà K đã đóng đủ với số tiền: 25.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà K đã trả là 6.200.000 đồng (lãi hợp pháp là 233.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 4.966.667 đồng, tiền phí 1.000.000 đồng).
  • Lần 3: Vào ngày 2/10/2024, bà K tiếp tục vay số tiền 20.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 1.200.000 đồng, Đ thu tiền phí: 1.200.000 đồng, bà K đã đóng đủ với số tiền: 25.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà K đã trả là 6.400.000 đồng (lãi hợp pháp là 233.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 4.966.667 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).
  • Lần 4: Vào ngày 31/10/2024, bà K tiếp tục vay số tiền 20.000.000 trong 21 ngày, mỗi ngày 1.200.000 đồng, Đ thu tiền phí: 1.200.000 đồng, bà K đã đóng đủ với số tiền: 25.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà K đã trả là 6.400.000 đồng (lãi hợp pháp là 233.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 4.966.667 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).
  • Lần 5: Vào ngày 12/11/2024, bà K tiếp tục vay số tiền 20.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 1.200.000 đồng, Đ thu tiền phí: 1.200.000 đồng, bà K đã trả 10 ngày với số tiền là 12.200.000 đồng, còn nợ lại 11 ngày với số tiền gốc là 11.104.167 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà K đã trả là 4.504.167 đồng (lãi hợp pháp là 233.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 3.070.833 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Xuân Đ cho bà K vay là: 95.000.000 đồng số tiền lãi đã trả: 22.804.167 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp là 897.222 đồng và số tiền lãi bất hợp pháp là 21.695.834 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 26.295.834 đồng (số lãi bất hợp pháp 21.695.834 đồng và T7 phí: 4.600.000 đồng). Hiện nay bà K còn nợ lại số tiền gốc là 11.104.167 đồng

2. Đặng Thị Nguyệt T3 – Địa chỉ 125/20 T - Phường L - Đ, Lâm Đồng, vay 03 lần:

  • Lần 1: Khoảng cuối tháng 8/2024, bà T3 vay số tiền 5.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng, Đ thu tiền phí: 300.000 đồng, bà T3 đã đóng đủ với số tiền: 6.300.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T3 đã trả là 1.600.000 đồng (lãi hợp pháp là 58.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 1.241.667 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).
  • Lần 2: Khoảng giữa tháng 9/2024, bà T3 tiếp tục vay số tiền 5.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng, Đ thu tiền phí: 300.000 đồng, bà T3 đã đóng đủ với số tiền: 6.300.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T3 đã trả là 1.600.000 đồng (lãi hợp pháp là 58.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 1.241.667 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).
  • Lần 3: Khoảng cuối tháng 9/2024, bà T3 tiếp tục vay số tiền 5.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng, Đ thu tiền phí: 300.000 đồng, bà T3 đã đóng đủ với số tiền: 6.300.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T3 đã trả là 1.600.000 đồng (lãi hợp pháp là 58.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 1.241.667 đồng, tiền phí 1.200.000 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Xuân Đ cho bà T3 vay là: 15.000.000 đồng, số tiền lãi đã trả: 3.900.000 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp: 175.000 đồng, Số tiền lãi bất hợp pháp: 3.725.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 4.325.000 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 3.725.000 đồng và T7 phí: 600.000 đồng).

3. Ông Phan Trần K1 – Địa chỉ: Q - Phường L - Đ, Lâm Đồng, vay 01 lần:

Khoảng tháng 11/2024, ông K1 vay số tiền 5.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng, Đ thu tiền phí: 300.000 đồng. Ông K1 đã đóng được 8 ngày với số tiền là 2.400.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 3.250.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí ông K1 đã trả là 950.000 đồng (lãi hợp pháp là 58.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 591.667 đồng, tiền phí 300.000 đồng). Số tiền Đ thu lợi bất chính là 891.667 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 591.667 đồng đồng và tiền phí: 300.000 đồng).

4. Bà Đinh Thu T4 – Địa chỉ: P - Chung cư N - Phường X - Đ, Lâm Đồng, vay 03 lần:

Lần 1: Khoảng cuối tháng 8/2024, bà T4 vay số tiền 15.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng, Đ thu tiền phí: 900.000 đồng. Bà T4 đã đóng đủ với số tiền: 18.900.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T4 đã trả là 4.800.000 đồng (lãi hợp pháp là 175.000 đồng, lãi bất hợp pháp là 3.725.000 đồng, tiền phí 900.000 đồng).

Lần 2: Ngày 21/9/2024, bà T4 tiếp tục vay số tiền 15.000.000 đồng. Thỏa thuận trả trong 21 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng, Đ thu tiền phí: 900.000 đồng. Bà T4 đã đóng đủ với số tiền: 18.900.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T4 đã trả là 4.800.000 đồng (lãi hợp pháp là 175.000 đồng, lãi bất hợp pháp là 3.725.000 đồng, tiền phí 900.000 đồng).

Lần 3: Ngày 1/10/2024, bà T4 tiếp tục vay số tiền 15.000.000 đồng. Thỏa thuận trả trong 21 ngày, mỗi ngày 900.000 đồng, Đ thu tiền phí: 900.000 đồng. Bà T4 đã đóng đủ với số tiền: 18.900.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí bà T4 đã trả là 4.800.000 đồng (lãi hợp pháp là 175.000 đồng, lãi bất hợp pháp là 3.725.000 đồng, tiền phí 900.000 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Xuân Đ cho bà T4 vay là: 45.000.000 đồng, số tiền lãi đã trả: 11.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp: 425.000 đồng, số tiền lãi bất hợp pháp: 11.275.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 13.975.000 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 11.275.000 đồng đồng và T7 phí: 2.700.000 đồng).

5. Phạm Đức T5 – Địa chỉ: 1 N - Phường C - Đ, Lâm Đồng, vay 01 lần: Ngày 13/09/2024, ông T5 vay số tiền 4.000.000 đồng trong 21 ngày mỗi ngày trả 300.000 đồng, Đ thu tiền phí 150.000 đồng. Ông T5 đã trả được số tiền 3.250.000 đồng, còn nợ lại 2.215.686 đồng tiền gốc. Tổng số tiền lãi và phí ông T5 đã trả là 1.465.686 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp: 46.667 đồng, số tiền lãi bất hợp pháp: 1.419.020 đồng, số tiền phí là 150.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 1.569.020 đồng (số lãi bất hợp pháp: 1.419.020 đồng và tiền phí: 150.000 đồng).

Tổng số tiền mà Nguyễn Xuân Đ đã cho 05 người vay là 164.000.000 đồng, số tiền lãi và phí Đông đã thu của người vay là: 39.411.520 đồng ( tiền lãi hợp pháp: 1.602.222 đồng; tiền lãi bất hợp pháp: 37.809.298 đồng, tiền phí vay: 8.350.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 46.159.298 đồng (số lãi bất hợp pháp: 37.809.298 đồng và tiền phí: 8.350.000 đồng).

Nguyễn Văn D đã trực tiếp cho 03 người (đã xác minh nhân thân, lai lịch và lấy lời khai).

1. Hồ Văn P, SN: 1989, địa chỉ: khu T - Phường L - Đ, Lâm Đồng, vay 01 lần: Vào khoảng tháng 10/2024, ông P vay số tiền 10.000.000 đồng, trong 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000 đồng, D thu tiền phí: 300.000 đồng. Ông P đã đóng được 15 ngày với số tiền 9.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 3.437.500 đồng. Tổng số tiền lãi và phí ông P đã trả là 2.737.500 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp: 116.667 đồng, số tiền lãi bất hợp pháp: 2.320.833 đồng, số tiền phí là

300.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 2.620.833 đồng (số lãi bất hợp pháp: 2.320.833 đồng và tiền phí: 300.000 đồng).

2. Ông Nguyễn Tấn H1 – Đ/c: Phường L - Đ - Lâm Đồng, vay 02 lần:

  • Lần 1: Ngày 20/10/2024, ông H1 vay 10.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày trả 600.000 đồng. ông H1 đã đóng đủ với số tiền: 12.600.000 đồng. Tổng số tiền lãi ông H1 đã trả là 2.600.000 đồng (lãi hợp pháp là 116.667 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.483.333 đồng).
  • Lần 2: Ngày 30/10/2024, ông H1 tiếp tục vay số tiền 10.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày 600.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay ông H1 đã đóng được 9.600.000 đồng, còn nợ lại tiền gốc là 3.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi và phí ông H1 đã trả là 3.100.000 đồng (lãi hợp pháp là 116.667 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.483.333 đồng, tiền phí 500.000 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Văn D cho ông H1 vay là: 20.000.000 đồng, số tiền lãi và phí đã trả: 5.700.000 đồng. Tổng số tiền D thu lợi bất chính là 5.466.666 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 4.966.666 đồng và tiền phí: 500.000 đồng)

3. Nguyễn Thanh T6 – Địa chỉ: G C, Phường L - Đ, Lâm Đồng, vay 06 lần:

  • + Lần 1: Vào ngày 12/9/2024, ông T6 vay số tiền 8.000.000 đồng, trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 21 ngày với số tiền 10.500.000đ. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 3.000.000 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.406.667 đồng, tiền phí 500.000 đồng).
  • + Lần 2: Vào ngày 24/9/2024, ông T6 tiếp tục vay số tiền 8.000.000 đồng, trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 21 ngày với số tiền 10.500.000đ. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 3.000.000 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.406.667 đồng, tiền phí 500.000 đồng).
  • Lần 3: Vào ngày 5/10/2024, ông T6 tiêp tục vay số tiền 8.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 21 ngày với số tiền 10.500.000đ. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 3.000.000 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.406.667 đồng, tiền phí 500.000 đồng).
  • Lần 4: Vào ngày 16/10/2024, ông T6 tiếp tục vay số tiền 8.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 21 ngày với số tiền 10.500.000đ. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 3.000.000 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.406.667 đồng, tiền phí 500.000 đồng).
  • Lần 5: Vào ngày 03/11/2024, ông T6 vay số tiền 8.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 21 ngày với số tiền 10.500.000đ. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 3.000.000 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 2.406.667 đồng, tiền phí 500.000 đồng).
  • Lần 6: Vào ngày 15/11/2024, ông T6 vay số tiền 8.000.000 đồng trong 21 ngày, mỗi ngày trả 500.000 đồng, D thu tiền phí: 500.000 đồng. Đối với khoản vay trên, ông T6 đã đóng được 04 ngày với số tiền 2.000.000 đồng, còn nợ lại tiền gốc là 6.617.284 đồng. Tổng số tiền lãi và phí ông T6 đã trả là 1.117.284 đồng (lãi hợp pháp là 93.333 đồng, lãi bất hợp pháp là 523.951 đồng, tiền phí 500.000 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Văn D cho ông T6 vay là: 48.000.000 đồng, số tiền lãi và phí đã trả là 16.117.284 đồng (số tiền lãi hợp pháp: 560.000 đồng, Số tiền lãi bất hợp pháp: 12.577.284 đồng và tiền phí là 3.000.000 đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính là 15.577.284 đồng ( Số lãi bất hợp pháp: 12.577.284 đồng đồng và tiền phí: 3.000.000 đồng). Hiện nay ông T6 còn nợ tiền gốc là 6.617.284 đồng.

Tổng số tiền mà Nguyễn Văn D đã cho 03 người vay là 78.000.000 đồng, số tiền lãi và phí D đã thu của người vay là: 24.554.784 đồng ( tiền lãi hợp pháp: 910.000 đồng; tiền lãi bất hợp pháp: 19.844.784 đồng, tiền phí vay: 3.800.000 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 23.644.784 đồng (số lãi bất hợp pháp: 19.844.784 đồng và tiền phí: 3.800.000 đồng).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (Một) Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh dương số Imel: 356721110700680 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (Một)) Điện thoại di động hiệu Nokia 8800 màu vàng code: 0557149 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • - 01 (Một) Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Xuân Đ.
  • - 01 (Một) CCCD số [...] mang trên B.
  • - 01 (Một) CCCD số [...] mang tên Phan Trần Kiệt .

Quá trình điều tra, xác định vai trò của các bị can như sau:

Đối với Nguyễn Xuân Đ: Đ là người trực tiếp cho 05 người vay với số tiền thu lợi bất chính là 46.159.298 đồng (số lãi bất hợp pháp: 37.809.298 đồng và tiền phí: 8.350.000 đồng). Ngoài ra, khi Nguyễn Văn D cho 03 người vay tiền thì Đ là người đã cùng D trực tiếp đến nhà Nguyễn Tấn H1, Nguyễn Thanh T6 để xác minh và nhắc đóng tiền gốc, lãi hàng ngày, giúp sức cho Nguyễn Văn D thu lợi bất chính số tiền 21.043.950 đồng. Do đó, Đ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho 07 người vay tiền để thu lợi bất chính tổng số tiền 67.203.248 đồng.

Đối với Nguyễn Văn D: D là người cho 03 người vay với số tiền thu lợi bất chính là 23.644.784 đồng (số lãi bất hợp pháp: 19.844.784 đồng và tiền phí: 3.800.000 đồng). Ngoài ra, khi Nguyễn Xuân Đ cho 05 người vay tiền thì D là người chuyển tiền cho vay và nhận tiền gốc và lãi hằng ngày qua tài khoản do Nguyễn Văn D sử dụng, giúp sức cho Nguyễn Xuân Đ thu lợi bất chính 46.159.298 đồng. Do đó, Nguyễn Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho 08 người vay tiền với tổng số tiền thu lợi bất chính là 69.804.082 đồng.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSKV1 ngày 21/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Văn D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 201; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Văn D mỗi bị cáo số tiền từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền gốc các bị cáo bỏ ra để cho vay mà người vay đã trả và tiền lãi hợp pháp bị cáo đã thu của những người vay buộc các bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Đối với tổng số tiền lãi vượt quá quy định và tiền phí dịch vụ mà các bị cáo đã thu của người vay thì buộc các bị cáo trả lại cho những người vay tiền.

Đối với số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho các bị cáo, buộc những người vay nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành và biết rõ việc thông qua giao dịch dân sự để cho vay với lãi suất lớn hơn 05 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024, Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Văn D đã nhiều lần cho người khác vay tiền tại tỉnh Lâm Đồng với lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 100%/năm/khoản vay. Trong đó:

Nguyễn Xuân Đ đã trực tiếp cho 05 người vay tiền và giúp sức cho Nguyễn Văn D cho 02 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 232.000.000 đồng với mức lãi suất cho vay là từ 37%/tháng đến 82%/tháng (tương đương với 445%/năm đến 984%/năm). Số tiền thu lợi bất chính Nguyễn Xuân Đ phải chịu trách nhiệm hình sự là 67.203.248 đồng.

Nguyễn Văn D đã trực tiếp cho 03 người vay tiền và giúp sức cho Nguyễn Xuân Đ cho 05 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 242.000.000 đồng với mức lãi suất cho vay là từ 37%/tháng đến 82%/tháng (tương đương với 445%/năm đến 984%/năm). Số tiền thu lợi bất chính Nguyễn Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự là 69.804.082 đồng.

Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Văn D cùng phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, hiện nay hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đang có xu hướng gia tăng và lan rộng, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tiền mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Tuy nhiên, xét các bị cáo có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, sử dụng số tiền không lớn để cho vay lãi nặng, thu nhập bất chính không lớn nên do đó áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

5.1. Đối với khoản tiền dùng để cho vay và lãi suất theo quy định: Đối với số tiền gốc các bị cáo bỏ ra để cho vay mà người vay đã trả và tiền lãi hợp pháp bị cáo đã thu của những người vay là số tiền sử dụng vào việc phạm tội và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định nên buộc các bị cáo nộp lại số tiền này để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể:

  • + Nguyễn Xuân Đ nộp lại số tiền gốc 147.111.520 đồng và số tiền lãi hợp pháp đã thu của những người vay là 1.913.333 đồng. Tổng cộng là 149.024.853 đồng.
  • + Nguyễn Văn D phải nộp lại số tiền gốc là 64.945.216 đồng và số tiền lãi hợp pháp đã thu của những người vay là 910.000 đồng. Tổng cộng là 65.855.216 đồng.

5.2. Đối với số tiền lãi vượt quá quy định và tiền phí dịch vụ mà các bị cáo đã thu của người vay thì buộc bị cáo trả lại cho những người vay tiền, cụ thể:

- Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ trả lại số tiền lãi bất hợp pháp và tiền phí vay cho người vay gồm:

  • + Bà Phan Thị Mai K 26.295.834 đồng (số lãi bất hợp pháp 21.695.834 đồng và T7 phí: 4.600.000 đồng)
  • + Bà Đặng Thị Nguyệt T3 4.325.000 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 3.725.000 đồng và T7 phí: 600.000 đồng).
  • + Ông Phan Trần K1 891.667 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 591.667 đồng đồng và tiền phí: 300.000 đồng).
  • + Bà Đinh Thu T4 13.975.000 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 11.275.000 đồng đồng và T7 phí: 2.700.000 đồng).
  • + Ông Phạm Đức T5 1.569.020 đồng (số lãi bất hợp pháp: 1.419.020 đồng và tiền phí: 150.000 đồng).

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn D trả lại số tiền lãi bất hợp pháp và tiền phí vay cho người vay gồm:

  • + Ông Hồ Văn P 2.620.833 đồng (số lãi bất hợp pháp: 2.320.833 đồng và tiền phí: 300.000 đồng).
  • + Ông Nguyễn Tấn H1 5.466.666 đồng (Số lãi bất hợp pháp: 4.966.666 đồng và tiền phí: 500.000 đồng)
  • + Ông Nguyễn Thanh T6 23.644.784 đồng (số lãi bất hợp pháp: 19.844.784 đồng và tiền phí: 3.800.000 đồng).

5.3. Đối với số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho các bị cáo, đây là khoản tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên buộc những người vay nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước nhà nước, cụ thể:

  • - Buộc bà Phan Thị Mai K nộp lại số tiền 11.104.167 đồng;
  • - Buộc ông Phan Trần K1 nộp lại 3.250.000 đồng;
  • - Buộc ông Phạm Đức T5 nộp lại số tiền 2.534.314 đồng.
  • - Buộc ông Nguyễn Thanh T6 nộp lại số tiền 6.617.284 đồng;
  • - Buộc ông Nguyễn Tấn H1 nộp lại 3.000.000 đồng;
  • - Buộc ông Hồ Văn P nộp lại số tiền 23.437.500 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe tên Nguyễn Xuân Đ và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 8800 màu vàng không liên quan đến tội phạm nên tuyên trả lại cho bị cáo Đ.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh dương bị cáo Nguyễn Xuân Đ đã sử dụng trong việc thực hiện tội phạm nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) Căn cước công dân tên Phan Trần K1, tuyên trả cho ông K1.
  • - Đối với 01 (một) Căn cước công dân tên Bùi T8: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L để tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Nguyễn Văn D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 201; các điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

[2] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, tuyên:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải nộp số tiền gốc dùng để cho vay là 147.111.520 đồng và số tiền lãi hợp pháp đã thu của những người vay là 1.913.333 đồng. Tổng cộng là 149.024.853đ (Một trăm bốn mươi chín triệu không trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm năm mươi ba đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp lại số tiền gốc dùng để cho vay là 64.945.216 đồng và số tiền lãi hợp pháp đã thu của những người vay là 910.000 đồng. Tổng cộng là 65.855.216 (Sáu mươi lăm triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn hai trăm mười sáu đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bà Phan Thị Mai K nộp lại số tiền 11.104.167₫ (Mười một triệu một trăm lẻ bốn nghìn một trăm sáu mươi bảy đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc ông Phan Trần K1 nộp lại 3.250.000₫ (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc ông Phạm Đức T5 nộp lại số tiền 2.534.314₫ (Hai triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm mười bốn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc ông Nguyễn Thanh T6 nộp lại số tiền 6.617.284₫ (Sáu triệu sáu trăm mười bảy nghìn hai trăm tám mươi bốn đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc ông Nguyễn Tấn H1 nộp lại 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc ông Hồ Văn P nộp lại số tiền 23.437.500đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ trả lại số tiền lãi bất hợp pháp và tiền phí vay cho người vay gồm:
    • + Bà Phan Thị Mai K 26.295.834₫ (Hai mươi sáu triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng).
    • + Bà Đặng Thị Nguyệt T3 4.325.000₫ (Bốn triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
    • + Ông Phan Trần K1 891.667₫ (T9 trăm chín mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
    • + Bà Đinh Thu T4 13.975.000₫ (Mười ba triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
    • + Ông Phạm Đức T5 1.569.020đ (Một triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn không trăm hai mươi đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn D trả lại số tiền lãi bất hợp pháp và tiền phí vay cho người vay gồm:
    • + Ông Hồ Văn P 2.620.833₫ (Hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn tám trăm ba mươi ba đồng).
    • + Ông Nguyễn Tấn H1 5.466.666đ (Năm triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
    • + Ông Nguyễn Thanh T6 23.644.784₫ (Hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm tám mươi bốn đồng).

[3] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân Đ: 01 (một) Giấy phép lái xe tên Nguyễn Xuân Đ và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 8800 màu vàng.
  • - Trả lại cho ông Phan Trần K1: 01 (một) Căn cước công dân tên Phan Trần Kiệt .
  • - Giao cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L: 01 (một) Căn cước công dân tên Bùi T8 để tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Lâm Đồng).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND Khu vực 1 - Lâm Đồng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng Thi hành án khu vực 1 - Lâm Đồng;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chu Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 102/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024, Nguyễn Xuân Đông và Nguyễn Văn Dũng đã nhiều lần cho người khác vay tiền tại tỉnh Lâm Đồng với lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 100%/năm/khoản vay. Trong đó: Nguyễn Xuân Đông đã trực tiếp cho 05 người vay tiền và giúp sức cho Nguyễn Văn Dũng cho 02 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 232.000.000 đồng với mức lãi suất cho vay là từ 37%/tháng đến 82%/tháng (tương đương với 445%/năm đến 984%/năm). Số tiền thu lợi bất chính Nguyễn Xuân Đông phải chịu trách nhiệm hình sự là 67.203.248 đồng. Nguyễn Văn Dũng đã trực tiếp cho 03 người vay tiền và giúp sức cho Nguyễn Xuân Đông cho 05 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 242.000.000 đồng với mức lãi suất cho vay là từ 37%/tháng đến 82%/tháng (tương đương với 445%/năm đến 984%/năm). Số tiền thu lợi bất chính Nguyễn Văn Dũng phải chịu trách nhiệm hình sự là 69.804.082 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger