Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 102/2025/HS-ST
Ngày: 24 - 11 - 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Long

Bà Lương Thị Kim Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 24/11/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2025/TLST- HS ngày 07/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST- HS ngày 07/11/2025, đối với bị cáo: Mai Ngọc D (tên gọi khác: Dũng N), sinh ngày 10 tháng 5 năm 1981 tại thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân số: [...]; nơi thường trú: Khối phố N, phường A, thành phố Đà Nẵng; nơi tạm trú: Khối phố A, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Ngọc P (chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Song N1, sinh năm 1984 và có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/6/2003, Mai Ngọc D bị Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 800.000 đồng về hành vi vi phạm quy định về quản lý rừng; ngày 02/7/2012, bị công an huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”; ngày 18/6/2013, bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 23/7/2013, bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 28/3/2020, Mai Ngọc D bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/7/2025, Mai Ngọc D bị Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành Quyết định xử phạt vào ngày 04/8/2025.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/7/2025; tạm giam ngày 31/7/2025; hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn thuộc Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Nho H, sinh năm 1977; trú tại: Khối phố A, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 20/7/2025, Mai Ngọc D đến quán K thuộc địa bàn xã X, thành phố Đà Nẵng chơi thì bị Công an xã X kiểm tra và phát hiện D dương tính với ma túy. Công an xã X bàn giao hồ sơ của D cho Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng để xử lý theo quy định. Trong quá trình xử lý hồ sơ vi phạm đối với D, khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 21/7/2025, Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của D thì phát hiện trong hộc nhựa tự chế gắn vào bàn trang điểm đặt trong phòng ngủ của D có hai đoạn ống hút nhựa màu đen được đóng kín hai đầu có kích thước lần lượt là (2.5 x 1)cm và (3 x 1)cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. D khai đây là ma túy đá D đã mua vào ngày 17/7/2025 của một đối tượng tên T1 tại khu vực đầu cầu C (cũ) thuộc xã N, thành phố Đà Nẵng, mục đích cất ma túy giấu nhằm sử dụng cho bản thân. Công an phường Đ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao D cùng tang vật vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ để tiến hành điều tra theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 606/KL - KTHS ngày 30/7/2025, Phòng K1 Công an thành phố Đ đã kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M gởi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng: 0.506 gam. Methaphetamine là chất ma túy, có số thứ tự 247, danh mục IIC được ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định về danh mục chất ma túy và tiền chất.

Mở rộng điều tra vụ án, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến đối tượng tên T1 mà D khai đã bán ma túy cho D nhưng không có căn cứ để xác định nhân thân, lý lịch của đối tượng. Đối với chị Nguyễn Song N1 (là vợ của Mai Ngọc D), chị N1 trình bày chị hiện là nhân viên siêu thị G (đóng tại địa bàn phường A, thành phố Đà Nẵng); chị N1 thường ngày đi làm nên không biết được Mai Ngọc D có sử dụng ma túy, mua ma túy và cất giấu ma túy vào hộc nhựa tự chế gắn vào bàn trang điểm đặt trong phòng ngủ của gia đình; kết quả test nhanh, chị N1 âm tính với ma túy.

Về vật chứng của vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ hai đoạn ống hút nhựa màu đen được đóng kín hai đầu có kích thước lần lượt là (2.5 x 1)cm và (3 x 1)cm bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật hoàn trả sau giám định, được đựng trong bì niêm phong của Phòng K1 công an thành phố Đ, hiện do Phòng thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng quản lý, bảo quản.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 30/9/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Mai Ngọc D về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Qua tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Mai Ngọc D từ 03 năm 06 tháng tù đến 4 năm tù. Bị cáo D hiện tại có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, công việc, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống hút nhựa màu đen được đóng kín hai đầu có kích thước lần lượt là (2.5 x 1)cm và (3 x 1)cm bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật hoàn trả sau giám định, được đựng trong bì niêm phong của Phòng K1 công an thành phố Đ, hiện do Phòng thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng quản lý, bảo quản.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận các lời khai, lời tường trình của mình trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hay được hướng dẫn khai báo; bị cáo thống nhất với lời khai của người chứng kiến trong quá trình điều tra; thống nhất với Kết luận giám định số 606/KL - KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng K1 Công an thành phố Đ và nội dung các tài liệu chứng cứ khác được công bố, kiểm tra, xem xét, tranh tụng tại phiên tòa. Qua xét hỏi, tranh luận, bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; bị cáo không có ý kiến bào chữa, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo.

Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại Quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người chứng kiến Nguyễn Nho H vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc người chứng kiến vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và xét xử vụ án nên tiếp tục xét xử vụ án theo quy định chung.

[1.2] Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác trình bày họ không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố vụ án là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

[2] Về Nội dung vụ án:

[2.1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Mai Ngọc D thì thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định lời khai, lời tự trình bày của bị cáo trong quá trình điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung hay được hướng dẫn khai báo và bị cáo không phủ nhận nội dung các lời khai đó. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất, không có mâu thuẫn với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 21/7/2025, qua kiểm tra hành chính, Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng phát hiện Mai Ngọc D đã có hành vi tàng trữ chất rắn dạng tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy tại phòng ngủ trong nhà của D. Công an phường Đ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; thu giữ, niêm phong vật chứng là hai đoạn ống hút nhựa màu đen được đóng kín hai đầu có kích thước lần lượt là (2.5 x 1)cm và (3 x 1)cm ; đồng thời, bàn giao đối tượng cùng vật chứng thu giữ cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ để xử lý. Tại Kết luận giám định số 606/KL - KTHS ngày 30/7/2025, Phòng K1 Công an thành phố Đ đã kết luận: Chất tinh thể màu trắng đựng trong bì niêm phong có ký hiệu M gởi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng: 0.506 gam. Hành vi của bị cáo Mai Ngọc D có đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Mai Ngọc D về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Xét mức độ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Chất ma túy là những chất gây nghiện được sử dụng rất hạn chế trong một số lĩnh vực và được nhà nước quản lý rất nghiêm ngặt. Việc sử dụng, lạm dụng chất ma túy, một mặt trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng; mặt khác gây lãng phí tài chính, phát tán tài sản, thiệt hại kinh tế bản thân, gia đình và xã hội. Đồng thời, việc nhiều người lệ thuộc vào chất ma túy tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến bạo lực gia đình, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; dễ phát sinh tệ nạn và các loại tội phạm khác. Bị cáo Mai Ngọc D là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức được điều đó nhưng vẫn bất chấp, cố ý thực hiện hành vi mua trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Hành vi của bị cáo một mặt trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; mặt khác, làm ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tinh thần của chính bị cáo; ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh những tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo đáng bị lên án và cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Ngọc D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có mẹ là bà Trần Thị T có công cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương trong kháng chiến cứu nước. Từ đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[2.4] Xét các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo Mai Ngọc D có nhân thân xấu. Trước lần phạm tội này, bị cáo đã nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục có hành vi mua, cất giấu, tàng trữ để sử dụng trái phép chấp ma túy.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm về nhân thân, lý lịch của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Mai Ngọc D với mức phù hợp mới đủ răn đe, cảnh tỉnh, ngăn ngừa bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo hiện tại có điều kiện, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, công việc và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.5]. Về xử lý vật chứng: Ma túy mà bị cáo Mai Ngọc D tàng trữ là chất cấm nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

[2.6]. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên T1 mà D khai đã bán ma túy cho D nhưng không có căn cứ để xác định nhân thân, lý lịch của đối tượng. Do đó, cần kiến nghị cơ quan điều tra công an thành phố Đ tách vụ việc này ra và tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Áp dụng các Điều 38, 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); các Điều 260, 326, 329 và 333 của Bộ Luật Tố tụng hình sự.

    • Tuyên bố bị cáo Mai Ngọc D phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Xử phạt bị cáo Mai Ngọc D hình phạt tù, mức hình phạt: 4 (bốn) năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 22/7/2025). T2 tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 đoạn ống hút nhựa màu đen được đóng kín hai đầu có kích thước lần lượt là (2.5 x 1)cm và (3 x 1)cm cùng số ma túy bên trong, loại Methamphetamine, là mẫu vật hoàn trả sau giám định, được đựng trong bì niêm phong của Phòng K1 công an thành phố Đ, hiện do Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 10 - Đà Nẵng quản lý, bảo quản (Theo Biên bản giao nhận vật chứng lập vào ngày 09 tháng 10 năm 2025).

  3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mai Ngọc D chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - Viện KSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Viện KSND Khu vực 10;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Phòng thi hành án Khu vực 10 - Đà Nẵng;
  • - UBND phường Điện Bàn;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Hồ sơ thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger