|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/HS-ST
Ngày 24-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Lý;
Ông Đinh Công Hoạt.
Thư ký phiên tòa: Ông Nông Xuân Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 518/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lương Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01/4/1995 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú: xóm T, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi ở hiện tại: Tổ B, Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 09/12 phổ thông. Họ và tên cha: Lương Văn D, sinh năm 1952; Họ và tên mẹ: Lục Thị K, sinh năm 1953, đều trú tại: xóm T, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Vợ: Vương Thị H, sinh năm 1996; trú tại: xóm T, xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 2013; con thứ hai sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giam từ ngày 24/3/2025 đến 13/5/2025. Ngày 14/5/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay.
-
Họ và tên: Chu Văn T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 11/7/1978 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 04/12 phổ thông. Họ và tên cha: Chu Văn K1 (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị N, sinh năm 1958, trú tại: L, H, Cao Bằng. Anh, chị, em ruột: Gia đình có 6 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1979; trú tại: L, H, Cao Bằng; Con: Bị cáo có 02 con, con đầu sinh năm 2005, con thứ hai sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến 13/5/2025. Ngày 14/5/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay, (có mặt).
-
Họ và tên: Chu Văn T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 19/7/2005 tại: huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông. Họ và tên cha: Chu Văn T1, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1979, đều trú tại: L, H, Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2024 đến nay, (có mặt).
-
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nông Văn D1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1979; địa chỉ: xóm N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 45 phút ngày 15/12/2024 tại Phòng 202 Nhà nghỉ N2 thuộc Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Công an thành phố C lập biên bản vụ việc đối với Chu Văn T2 (Sinh năm 2005; trú tại: Nặm N, L, H, Cao Bằng) và Fang Teng P (Phương Đằng B) – Quốc tịch Trung Quốc có dấu hiệu hành vi xuất nhập cảnh trái phép. Qua kiểm tra hành chính, người nước ngoài không xuất trình được các loại giấy tờ nhập cảnh theo quy định. Xác định vụ việc có dấu hiệu của T3 tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, không thuộc thẩm quyền nên ngày 17/12/2024 Công an thành phố C đã chuyển toàn bộ tài liệu, vật chứng, người liên quan đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C đã tiến hành xác minh, điều tra, đủ căn cứ xác định: Khoảng ngày 13/12/2024 Lương Văn T (sinh năm 1995; trú tại: T, C, H, Cao Bằng) được một người đàn ông Trung Quốc thường gọi là “Lão P1” liên lạc để giúp đón một người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua mốc 703 thuộc xã C, huyện H để đưa đi Hà Nội, tiền công thỏa thuận khoảng 7.000.000₫ – 8.000.000đ. Thần đồng ý. Đến khoảng 18 giờ ngày 14/12/2025 T gọi điện thoại cho Chu Văn T1 (sinh năm 1978; trú tại: Nặm N, L, H, Cao Bằng) và Chu Văn T2 để thuê hai người này đến mốc 703 đón một người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam và đưa đi Hà Nội. Khi xong việc T hứa trả công cho T1 nhưng chưa nói rõ số tiền và sẽ trả công cho T2 là 2.000.000đ. T1 và T2 đồng ý, sau đó T2 trao đổi với T1 được biết T yêu cầu một người điều khiển xe máy đi trước để cảnh giới, do T2 không có giấy phép lái xe nên không tự lái xe đến thành phố C được nên T1 và T2 thống nhất khi nhận được thông báo của T yêu cầu đi đón người thì T1 sẽ một mình đi đến mốc 703 đón người rồi điều khiển xe máy đưa người Trung Quốc đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng, đồng thời báo cho T2 chủ động đi xe buýt đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng đón và đưa người Trung Quốc đi Hà Nội.
Đến trưa ngày 15/12/2025 T liên lạc cho T1 và T2 đi đến mốc 703 để đón người Trung Quốc, T1 một mình điều khiển xe máy Honda Wave biển kiểm soát 11H1-227.25 đi đến khu vực biên giới, để xe bên đường rồi đi bộ đến mốc 703 đợi để đón người. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/12/2025 T1 nhìn thấy 02 người đàn ông đi bộ từ lãnh thổ Trung Quốc vượt biên trái phép sang lãnh thổ Việt Nam và đến mốc 703 gặp T1, 01 người đàn ông nói chuyện bằng tiếng dân tộc Nùng với T1 để giao người. T1 nhận người rồi tiếp tục đi bộ dẫn đường đưa 01 người đàn ông đến chỗ để xe máy, người đàn ông giao người theo đường cũ quay về Trung Quốc. T1 dẫn người Trung Quốc đi bộ khoảng 30 phút đến nơi để xe máy rồi điều khiển xe đi đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng. Trên đường đi T1 gọi điện cho T2 thông báo đã đón được người và đang trên đường đưa người đến bến xe, T2 chủ động đi đến thị trấn X, Hà Quảng B xe buýt để đến bến xe đón người. Quá trình di chuyển T gọi điện cho T2 để hướng dẫn việc đưa đón người. Đến khoảng 17 giờ ngày 15/12/2024 T1 chở người Trung Quốc đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng, khoảng 20 phút sau T2 cũng đến bến xe, gặp T1, T2 nói sẽ đưa người Trung Quốc vào nhà nghỉ để tối đi xe khách đến Hà Nội. Sau khi giao người cho T2, T1 đi xe máy về nhà, còn T2 dẫn người Trung Quốc vào nhà nghỉ N2 thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C để lấy phòng nghỉ. Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày Công an thành phố C tiến hành kiểm tra phát hiện T2 và người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp nên đã đưa về trụ sở để làm vụ việc. Sáng ngày 16/12/2024 T đã trả tiền công cho Thông số tiền là 5.000.000₫ bằng hình thức chuyển khoản cho T1, còn T2 chưa nhận được tiền công.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi nêu trên của các bị cáo T, T1, T2 đã bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSCB-P1 ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhận dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là đúng với hành vi thực hiện.
Kết thúc xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn T, xử phạt: Bị cáo Lương Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn T1, xử phạt: Bị cáo Chu Văn T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn T2, xử phạt: Bị cáo Chu Văn T2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
Tịch thu số tiền 5.000.000 đồng liên quan đến hành vi phạm tội.
Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax của bị cáo Chu văn T2, 01 điện thoại OPPO A31 của bị cáo Chu Văn T1.
Trả lại 01 điện thoại OPPO A12 cho bị cáo Chu Văn T1, 01 điện thoại Iphone 13 cho bị cáo Lương Văn T.
Tịch thu xe mô tô biển kiểm soát 11H1-227.25.
Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất mà Viện kiểm sát đề nghị. Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật, đồng thời đề nghị cho các bị cáo được miễn án phí.
Các bị cáo nhất trí với bản luận tội, người bào chữa không có ý kiến tranh luận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án về động cơ, mục đích, thời gian, địa điểm cũng như cách thức đưa người nhập cảnh trái phép vào lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 13/12/2024 Lương Văn T được một người Trung Quốc tên là “Lão Piảo” thuê đón một người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua mốc 703 thuộc xã C, huyện H để đưa đi Hà Nội, sau đó T thuê Chu Văn T1 và Chu Văn T2 đi đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Ngày 15/12/2024 T1 điều khiển xe máy đến mốc 703 để đón người Trung Quốc đưa đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng giao cho T2, T2 đi xe buýt từ H đến bến xe khách tỉnh Cao Bằng đợi đón người Trung Quốc, sau đó đưa người Trung Quốc và nhà nghỉ N2 thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C nghỉ đợi để đưa đi Hà Nội. Đến hơn 18 giờ cùng ngày 15/12/2024, Công an thành phố C tiến hành kiểm tra phát hiện T2 và người Trung Quốc không có giấy tờ nhập cảnh hợp pháp nên đã lập biên bản và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ. Quá trình thực hiện việc đưa đón người nhập cảnh trái phép, T1 đã nhận được tiền công từ T là 5.000.000đ; còn T2 và T chưa được nhận tiền công.
Hành vi đón, đưa người quốc tịch nước ngoài vào lãnh thổ nước C mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định của pháp luật với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật, khi đón được người đàn ông Trung Quốc, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình nhưng vì mong muốn được hưởng lợi nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 đều có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra vụ án các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo đều là ngưởi dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo Chu Văn T1, Chu Văn T2 thuộc hộ nghèo, bị cáo Chu Văn T1 nộp lại số tiền thu lợi 5.000.000 đồng nên cả ba bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[4]. Đánh giá vai trò đồng phạm:
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Lương Văn T đóng vai trò đầu vụ, là người trực tiếp nhận thông tin, liên hệ từ người đàn ông tên “Lão Piảo” để đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, hai bị cáo còn lại đóng vai trò là người thực hành khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét.
[5]. Về hình phạt chính:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo là ít nghiêm trọng, các bị cáo chưa được hưởng lợi khi thực hiện hành vi. Các bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 01 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán nhân dân tối cao ngày 15/5/2018 Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử nhận định: không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng án treo theo như mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng là phù hợp, như vậy cũng đủ sức răn đe để các bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích; việc cho các bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung trên đối với các bị cáo.
[7] Việc xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy:
Cần tịch thu số tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo Chu Văn T1 là tiền do phạm tội mà có.
Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại Iphone 13 của bị cáo Chu văn T2, 01 điện thoại OPPO A31 của bị cáo Chu Văn T1 do các bị cáo sử dụng để thông tin khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1 227.25 mang tên Chu Văn T1 do bị cáo đã sử dụng làm vào thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại 01 điện thoại OPPO A12 cho bị cáo Chu Văn T1, 01 điện thoại Iphone 13 cho bị cáo Lương Văn T do không liên quan đến tội phạm.
Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 106 ngày 18/6/2025.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên “Lão Piảo” và người đàn ông dẫn người Trung Quốc đến khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, do không có thông tin cụ thể về họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ. Đối với đối tượng Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam đã bị Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 18 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021".
[9] Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật do các bị cáo là ngưởi dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo Chu Văn T1, Chu Văn T2 thuộc hộ nghèo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố:
Các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.-
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Văn T, xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng.
Giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn T1, xử phạt: Bị cáo Chu Văn T1 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Giao bị cáo Chu Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Văn T2, xử phạt: Bị cáo Chu Văn T2 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Giao bị cáo Chu Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
-
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.Các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:-
- Tịch thu số tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo Chu Văn T1 là tiền do phạm tội mà có (xác nhận bị cáo đã nộp theo giấy nộp tiền ngày 09/5/2025).
-
- Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách nhà nước đối với:
-
+ 01 điện thoại Iphone 12 Promax của bị cáo Chu Văn T2 được đựng trong phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi “ 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu Gold của Chu Văn T2”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình trong mực đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh C (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 17/01/2025).
-
+ 01 điện thoại OPPO A31 của bị cáo Chu Văn T1 được đựng trong phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi “ 02 điện thoại di động của Chu Văn T1, trong đó: 01 điện thoại OPPO A31; 01 điện thoại OPPO A12”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình trong mực đỏ của Phòng K2 – Công an tỉnh C ( được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 17/01/2025).
-
+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1 227.25, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm3, nhãn hiệu HONDA, số loại: JA391 WAVE, màu sơn: Xanh đen bạc; số máy: JA39E1233505, số khung: RLHJA3911KY366312, dung tích xi lanh: 109cm3, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2019, xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên phải, không có cần khởi động, vỏ xe có nhiều vết xước đã cũ (kèm theo 01 chìa khóa xe). Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 23/12/2024 của phòng C1 Công an tỉnh C.
-
-
- Trả lại 01 điện thoại OPPO A12 cho bị cáo Chu Văn T1 được đựng trong phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi “ 02 điện thoại di động của Chu Văn T1, trong đó: 01 điện thoại OPPO A31; 01 điện thoại OPPO A12”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình trong mực đỏ của Phòng K2 – Công an tỉnh C ( được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 17/01/2025).
-
- Trả lại 01 điện thoại Iphone 13 cho bị cáo Lương Văn T được đựng trong phong bì niêm phong theo quy định mặt trước ghi “ 01 điện thoại di động của Lương Văn T”, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình trong mực đỏ của Phòng K2 – Công an tỉnh C ( được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 17/01/2025).
Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 106 ngày 18/6/2025.
-
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.Các bị cáo Lương Văn T, Chu Văn T1, Chu Văn T2 có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần liên quan đến quyền lợi vả nghĩa vụ của mình được ghi nhận trong bản án, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Đàm Văn Lý | Lê Na |
| Đinh Công Hoạt |
Nơi nhận:
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- - VKSND tỉnh Cao Bằng;
- - Cơ quan An ninh điều tra;
- - Cục THADS tỉnh Cao Bằng.
- - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;
- - Phòng KTNV&THA;
- - Sở Tư pháp CB;
- - PC 10 - CA tỉnh;
- - Chính quyền địa phương nơi cư trú của các bị cáo;
- - Bị cáo;
- - Lưu HS vụ án, HCTP;
- - Lưu toà HS.
Bản án số 102/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 102/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Văn T và đồng phạm phạm tội tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
