Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HS-ST

Ngày: 09 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kền

Bà Lê Thu Thúy

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký viên, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Ngọc D (tên gọi khác: không); sinh ngày: 15 tháng 7 năm 1989, tại: thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Chu Văn L và bà Lê Thị D1; vợ, con: chưa có; Tiền sự: không có; Tiền án:

  • - Ngày 18/4/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/02/2009 chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự.
  • - Ngày 25/8/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 66 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 05/02/2015 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • - Ngày 06/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và “Cướp giật tài sản”. Ngày 07/02/2024, chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

2

Nhân thân: Ngày 12/7/2007, Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/9/2007, chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2025, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Quốc T năm: 1985; nơi cư trú: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1960; nơi cư trú: tổ F, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Đặng Đình H năm 1985; nơi cư trú: số D T, tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào các ngày 28/12/2024 và ngày 31/01/2025, Chu Ngọc D2 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 28/12/2024, Chu Ngọc D3 mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI màu sơn đen, biển kiểm soát (BKS) 14AA-142.60 đi trên đường Đ thuộc phường H, thành phố H đi qua nhà của anh Nguyễn Quốc T1 tại tổ A, khu F, phường H, thành phố H hiện có 02 chiếc lồng chim bằng inox bọc vải màu đỏ, bên trong có 01 con chim khướu và 01 con chim cu gáy, đang được treo trong chòi trong sân nhà. Do thấy nhà đã đóng cửa, không có ai trông coi nên D2 nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc lồng chim cùng 02 con chim này. D đi tìm và nhặt lấy 01 cây tre dài khoảng 03 mét ở trên vỉa hè ven đường thuộc tổ I, khu F, phường H, thành phố H đứng lên gờ của tường bao bên ngoài nhà, dùng cây tre trên khều và lấy trộm 02 chiếc lồng chim cùng 02 con chim trên. Sau khi lấy được tài sản, D4 lại vất cây tre lại vị trí ban đầu, rồi điều khiển xe mô tô mang theo mang tài sản vừa lấy được về nhà để cất giấu. Ngày 29/12/2024, D5 02 chiếc lồng chim cùng 02 con chim nói trên đến cửa hàng bán chim cảnh của anh Đặng Đình H1 số D T, tổ E, khu D, phường C, thành phố H bán cho anh H2 1.150.000 đồng. Số tiền này, D2 tiêu xài hết.

- Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ ngày 31/01/2025, sau khi ăn uống tại nhà người quen ở phường H, thành phố H mình điều khiển xe mô tô BKS 14AA-142.60 về nhà. Khi đi qua nhà của ông Nguyễn Văn C1 tổ F, khu I, phường H, thành phố H hiện trước cửa nhà có treo 01 chiếc lồng chim bằng gỗ phủ vải đỏ, bên trong có 01 con chim chào mào. Do thấy ngôi nhà đóng cửa, xung quanh không có ai nên D6 sinh ý định lấy trộm con chim này. D ra bãi đất trống gần đó lấy 01 cây tre dài khoảng 03 mét, đồng thời mở cốp xe lấy BKS 14B1-068.63 gắn vào chiếc xe mô tô trên và cất BKS 14AA-142.60 vào trong cốp xe. Sau đó, D4 lại

3

ngôi nhà, đứng ở vị trí tường rào, rồi dùng cây tre trên khều chiếc lồng chim xuống. Sau khi lấy được chiếc lồng chim cùng con chim nói trên, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D5 chiếc lồng chim cùng con chim nói trên đến cửa hàng bán chim cảnh của anh Đặng Đình H3 bán cho anh H2 1.500.000 đồng. Số tiền này, D2 chi tiêu cá nhân hết. Cùng ngày, ông C2 hiện sự việc đã đến Công an thành phố H trình báo.

Ngày 01/02/2025, trong quá trình tuần tra tại khu vực đường T, thành phố H công tác Công an thành phố H tiến hành kiểm tra hành chính đối với Chu Ngọc D7 thấy bên trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 14AA-142.60 có BKS 14B1-068.63 nên đưa D về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, D8 thú và giao nộp: 01 chiếc mũ lưỡi chai, màu đen; 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xanh rêu; 01 chiếc quần bò dài, màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, màu sơn đen, gắn BKS 14AA-142.60; 01 BKS 14B1-068.63.

Ngày 01/02/2025, anh Đặng Đình H4 nguyện giao nộp: 01 con chim khướu có lông màu đen, đuôi dài, lông hai bên má màu trắng; 01 con chim cu gáy có lông màu nâu, phần cổ có nhiều đốm trắng; 01 con chim chào mào, lông màu xám - nâu, riêng lông ở khu vực đầu chim có đốm trắng và 02 đốm màu đỏ ở hai bên má; 02 chiếc lồng chim bằng inox, dạng tròn, màu sáng và 01 chiếc lồng chim bằng gỗ dẻ màu nâu, có móc treo bằng kim loại màu vàng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 05/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 01 con chim khướu mua cuối năm 2022 trị giá 1.400.000 đồng; 01 con chim cu gáy mua cuối năm 2020, trị giá 500.000 đồng; 01 con chim chào mào mua cuối năm 2021, trị giá là 8.000.000 đồng; 01 chiếc lồng chim bằng inox, cao 60cm, mua cuối năm 2022, trị giá 40.000 đồng; 01 chiếc lồng chim bằng inox, chiều cao lồng 35cm, mua cuối năm 2020, trị giá 20.000 đồng; 01 chiếc lồng chim bằng gỗ dẻ, mua cuối năm 2021, trị giá 200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị xâm hại là 10.160.000 đồng (Mười triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 16/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Biển kiểm soát xe mô tô 14B1-068.63 là biển kiểm soát giả.

Tại Biên bản kiểm tra ma túy trong nước tiểu của Chu Ngọc D9 hiện: D dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Ngoài ra, D còn khai: Khi bán chim cảnh cho anh H5 D nói đây là tài sản của D Đối với chiếc BKS 14B1-068.63 do D nhặt được trên đường từ lâu, luôn để trong cốp xe. Ngoài ra, vào chiều ngày 30/01/2025, D3 mình sử dụng chất ma túy tại bãi đất trống thuộc phường H, thành phố H ma túy trên D được 01 người bạn tên là T2 (D không rõ nhân thân lai lịch) cho từ lâu.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 1854/CT-VKSHL ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo Chu Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

4

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Chu Ngọc D khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Các bị hại ông Nguyễn Văn Công Nguyễn Quốc T3 vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và đều giữ nguyên lời khai, lời đề nghị như đã trình bày tại Cơ quan điều tra. 03 con chim và 03 lồng chim của các bị hại đã được thu hồi, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho các bị hại nên các bị hại không có ý kiến gì, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự. Ông C3 ông T đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Chu Ngọc D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Đình H6 mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: anh giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Cơ quan điều tra. Anh tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 03 con chim và 03 lồng chim do bị cáo D10 cho anh. Anh không biết các tài sản trên là do bị cáo D trộm cắp mà có. Nay, anh không yêu cầu D11 hoàn trả số tiền 2.650.000 đồng mà anh bỏ ra mua các tài sản trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Chu Ngọc D từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc mũ lưỡi chai, màu đen; 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xanh rêu; 01 chiếc quần bò dài, màu đen và 01 BKS 14B1-068.63 thu giữ của Chu Ngọc D.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, màu sơn đen, gắn BKS 14AA-142.60 thu giữ của Chu Ngọc D.
  • - Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.650.000 đồng đối với D

Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H10, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

5

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú, Kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 16/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q1, Kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 05/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H các Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường cùng các bản ảnh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 23 giờ ngày 28/12/2024, tại tổ A, khu F, phường H, thành phố H lợi dụng sơ hở trộm cắp 02 lồng chim bằng inox trị giá 60.000 đồng, 01 con chim cu gáy trị giá 500.000 đồng và 01 con chim khướu trị giá 1.400.000 đồng của anh Nguyễn Quốc T4 khoảng 13 giờ ngày 31/01/2025, tại tổ F, khu I, phường H, thành phố H tục lợi dụng sơ hở trộm cắp 01 chiếc lồng chim bằng gỗ trị giá 200.000 đồng và 01 con chim chào mào trị giá 8.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn C4 trị giá tài sản chiếm đoạt là 10.160.000 đồng (Mười triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Hành vi của Chu Ngọc D2 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do Chu Ngọc D đã bị xét xử về các tội xâm phạm sở hữu vào các năm 2008, 2010 và 2018 nhưng chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc đưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

g) Tái phạm nguy hiểm.”

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, làm mất trật tự trị an, tạo nên tâm lý bất an, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì không có tiền tiêu xài cá nhân, không muốn lao động chân chính mà chỉ muốn hưởng thụ, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của công dân trong việc quản lý tài sản cá nhân, đã cố ý lén lút trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, thể hiện sự coi thường pháp luật. Ngoài ra, bị cáo đã 04 lần bị xét xử và phải chấp hành hình phạt tù về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù, cách ly xã hội một

6

thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo hai lần trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản chiếm đoạt vào ngày 28/12/2024 là 1.960.000 đồng, chưa đủ 2.000.000 đồng, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền chiếm đoạt của các lần trộm cắp và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản đã được trả lại cho các bị hại, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm và không có tài sản, bị cáo hiện đang tạm giam khó có khả năng thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại anh Nguyễn Quốc T3 và ông Nguyễn Văn C đều xác nhận là đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Đình H7 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.650.000 đồng là tiền anh đã mua 03 con chim và 03 chiếc lồng chim của bị cáo, dù đã được Tòa án giải thích về quyền được đòi lại tài sản bị chiếm đoạt, yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây là tiền bị D chiếm đoạt của anh H, không thuộc trường hợp tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ tuyên tịch thu số tiền nộp ngân sách Nhà nước theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mà ghi nhận sự tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội của anh H9 việc không yêu cầu bị cáo phải trả lại anh H8 tiền trên.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản:

  • - 02 Chiếc lồng chim bằng inox bọc vải màu đỏ, bên trong có 01 con chim khướu và 01 con chim cu gáy đã được trả lại cho bị hại anh Nguyễn Quốc T3; 01 chiếc lồng chim bằng gỗ phủ vải đỏ, bên trong có 01 con chim chào mào đã được trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn C, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 Chiếc mũ lưỡi chai, màu đen; 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xanh rêu; 01 chiếc quần bò dài, màu đen, đã qua sử dụng, đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị không nhận lại, cần tịch thu tiêu hủy.

7

  • - 01 Biển kiểm soát 14B1-068.63 đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, là biển kiểm soát giả, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, màu sơn đen, gắn BKS 14AA-142.60 thu giữ của bị cáo Chu Ngọc D. Bị cáo là chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe mô tô trên. Đây là phương tiện mà bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Các nội dung khác:

  • - Đối với anh Đặng Đình H7 là người đã mua 03 con chim và 03 lồng chim của bị cáo D, nhưng không biết tài sản là do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • - Đối với Chu Ngọc D12 hành vi “Điều khiển xe mô tô gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe” đã vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 17 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu cho Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố H xử phạt theo quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với việc Chu Ngọc D12 hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã bị xử phạt hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 113/QĐ-XPHC ngày 25/02/2025 của Công an thành phố H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Chu Ngọc D 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 02/02/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc mũ lưỡi chai, màu đen; 01 chiếc áo khoác dài tay, màu xanh rêu; 01 chiếc quần bò dài, màu đen và 01 BKS 14B1-068.63 đã qua sử dụng, thu giữ của Chu Ngọc D.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius FI, màu sơn đen, gắn BKS 14AA-142.60 thu giữ của Chu Ngọc D.

8

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 147/BB-THA ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

3. Về phần dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của anh Đặng Đình H9 việc không yêu cầu bị cáo Chu Ngọc D13 lại anh H8 tiền 2.650.000 đồng (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

4. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, bị cáo Chu Ngọc D có nghĩa vụ nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục THADS thành phố Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh (PV06);
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh (PC10);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 102/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Ngọc Duy bị truy tố tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger