Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HS-PT

Ngày: 05-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam

Các Thẩm phán:

  • 1/ Ông Trương Công Huấn
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05/3/2025, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2025/TLPT-HS, ngày 16/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST, ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo:

Nguyễn Thị Yến L1, sinh năm 2001 tại Đồng Tháp; Thường trú: ấp K, xã L, huyện M, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng P và bà Lê Thị Bích L2; hoàn cảnh gia đình: Chưa có chồng, con; tiền án, tiên sự: Không;

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 16/5/2024 (Có mặt).

Người bào chữa: Ông Bùi Phương N1, luật sư của Văn phòng luật sư B thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ 50 phút ngày 14/11/2023, các anh Trần Hoàng D, Trần Thanh T1, Phan Văn T2 (là Công an và bảo vệ dân phố Phường B, Quận C) tiến hành kiểm tra hành chính phòng G5 đường A, phường B, Quận C, phòng có Lê Thanh T3, Huỳnh Thị Kim T4; phát hiện trên nền nhà gần giường ngủ có 02 gói nylon chứa bột màu trắng (T3 khai là ma túy), 01 loa màu đen, 01 loa màu đỏ, 01 bình kim loại màu xanh nên tổ công tác đã thu giữ vật chứng, bắt giữ T3, T4 giao Công an Phường B, Quận C lập biên bản xử lý.

Từ lời khai của T4 và T3, tổ công tác tiếp tục kiểm tra hành chính phòng G1 đường A, phường B, Quận C có Huỳnh Thị Thúy A, Nguyễn Thị Yến L1, Lê Kim N2; A tự nguyện giao nộp 01 đĩa sứ, 01 muỗng kim loại, 01 ly thủy tinh bên trong có chứa chất lỏng không màu (A khai là các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy) nên tổ công tác đã thu giữ vật chứng, bắt giữ A, L1, N2 giao Công an Phường B, Quận C lập biên bản xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận C đã khám xét khẩn cấp nơi cư trú của A tại địa chỉ đường X, phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ 01 loa.

Theo Kết luận giám định số 12927/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 02 gói được niêm phong bên ngoài có các dấu vân tay, các chữ ký ghi tên Lê Thanh T3, Huỳnh Thị Kim T4, Nguyễn Thị Yến L1, Huỳnh Thị Thúy A và hình dấu Công an Phường B, Quận C, bên trong có:

  • - Gói 01: Bột màu trắng trong 02 gói nylon (ký hiệu mẫu m₁) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,0059g (không phẩy không không năm chín gam) loại MDMA.
  • - Gói 2: Chất lỏng không màu trong 01 ly thủy tinh (ký hiệu mẫu m2) có thể tích 0,2ml (không phẩy hai mililit) không tìm thấy ma túy.

Theo các biên bản xét nghiệm chất ma túy của Huỳnh Thị Thúy A dương tính với MET, MDMA, KET; Lê Thanh T3, Nguyễn Thị Yến L1 dương tính với MET, MDMA; Huỳnh Thị Kim T4, Lê Kim N2 âm tính với ma túy.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, A, L2, T3 khai nhận: Khoảng tháng 5/2023, Nguyễn Thị Yến L1, Huỳnh Thị Kim T4 cùng thuê phòng số G4 đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh để ở, T4 đứng tên hợp đồng thuê nhà; do Linh thường không có ở tại Thành phố Hồ Chí Minh nên khi L1 ở thì L1 sẽ hùn tiền thuê gửi cho T4. Khoảng 23 giờ ngày 13/11/2023, Huỳnh Thị Thúy A rủ Lê Thanh T3 hùn tiền mua ma túy sử dụng, T3 đồng ý và hẹn qua nhà A, đường X, phường Y, Quận Z để cùng sử dụng ma túy; T3 rủ Nguyễn Thị Yến L1 đi cùng. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 14/11/2023, A liên hệ với đối tượng (chưa rõ lai lịch; sử dụng tài khoản mạng xã hội zalo tên Miee) để mua 04 viên thuốc lắc và 01 chai nước vui G với giá là 2.350.000 đồng, A thanh toán bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản tên Huỳnh Thị Thúy A mở tại Ngân hàng H đến tài khoản tên E mở tại Ngân hàng F. Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày, T3 và L1 đến nhà của A. Đến khoảng 01 giờ cùng ngày, 01 đối tượng là thanh niên (chưa rõ lai lịch) đến giao ma túy cho A. Sau khi nhận ma túy, A lấy 01 viên thuốc lắc đưa cho T3, T3 bẻ viên thuốc lắc làm hai phần và lấy 01 phần sử dụng, phần còn lại T3 đưa cho L1 nhưng L1 chưa sử dụng mà để lại trên bàn; A tự lấy 01 viên thuốc lắc bẻ làm 02 phần, A sử dụng một phần, phần còn lại để trên bàn. Do A mở nhạc nên gây ồn bị nhắc nhở nên T3, L1, A rủ nhau về nơi cư trú của L1 tại phòng G4 đường A, phường B, Quận C để tiếp tục sử dụng ma túy, Tú lấy 01 viên thuốc lắc và chai nước vui G mang đi; A lấy 01 gói nylon chứa các mảnh thuốc lắc chưa sử dụng hết, 01 gói nylon chứa Ketamine của A mua trước đó mang đi. T3, A lấy ma túy để lên bàn; T3 pha nước G với nước cam để T3 và L1 sử dụng; T3, L1, A tiếp tục sử dụng các mảnh thuốc lắc còn lại; A lấy 01 đĩa sứ màu trắng trong bếp rồi đổ ma túy Ketamine ra đĩa tự sử dụng hết. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, khi T3, L1, A sử dụng hết số ma túy nêu trên thì T4 đi làm về phòng và đặt mua bình khí cười để T3, L1, A, T4 sử dụng. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, A, L1, T3 về phòng G1 của T3 để ngủ; T4 ở lại phòng G4 nghỉ ngơi, trong phòng có Lê Kim N2 (là em ruột của T3). Đến khoảng 07 giờ 50 phút cùng ngày, T3 quay lại phòng G4 thì bị kiểm tra như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các biên bản kiểm tra; biên bản khám xét khẩn cấp; biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định; kết quả xét nghiệm chất ma túy; lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt của các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/12/2024, bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nghiên cứu hồ sơ, tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án đã đề nghị: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm do xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cả 02 điểm a và b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo là không phù hợp. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chỉ xét xử bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, từ đó xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Luật sư Bùi Phương N1 bào chữa cho bị cáo trình bày:

Luật sư thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rằng bị cáo chỉ phạm tội theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Ngoài ra, luật sư cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đánh giá lại tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo phạm tội v ới vai trò thụ động, bị bạn bè xấu rủ rê, nhất thời phạm tội và gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng, có nhiều đóng góp cho địa phương, cha tật nguyền, mẹ đau ốm thường xuyên, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, từ đó đề nghị áp dụng cho bị cáo hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, tuy nhiên, xét ý thức của bị cáo khi được T3 rủ đi sử dụng ma túy, bị cáo đồng ý nhưng chưa sử dụng, đồng thời, các bị cáo cũng không trao đổi, bàn bạc trước về việc hùn hạp hoặc chia tiền sử dụng ma túy. Khi đến nhà A, A là người đặt mua và cung cấp ma túy cho T3, T3 đưa cho L1 nhưng L1 không sử dụng. Quá trình điều tra, các bị cáo A, T3 đều khai không bàn trước về việc chia tiền và chưa yêu cầu L1 chia tiền, việc sử dụng vấn đề giả định trong quá trình điều tra là không có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L1.

Đối với lần thứ 2, bị cáo đồng ý sử dụng phòng của bị cáo để các bị cáo A, T3 sử dụng ma túy cùng bị cáo đã cấu thành hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự như Tòa cấp sơ thẩm xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong thời hạn luật định là hợp lệ.

Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có nhiều đóng góp thiện nguyện tại địa phương, từ đó áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo 08 năm tù.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp các tài liệu, chứng cứ thể hiện gia đình bị cáo có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều giấy khen, đây là các tình tiết mới được áp dụng để xem xét cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo chỉ phạm tội thuộc điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và có cung cấp thêm tài liệu để xem xét giảm nhẹ hình phạt, xét thấy mức hình phạt 08 năm tù là có phần nghiêm khắc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4] Các vấn đề khác: Bị cáo không phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Yến L1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm.

    Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/5/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Yến L1 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

  2. Bị cáo không phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND Quận C; (1)
  • - P.PC 53 – CA Tp.HCM; (1)
  • - Cục THADS Tp.HCM (1)
  • - Chi cục THA Quận C; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Trại tạm giam; (2)
  • - TAND Quận C; (1)
  • - Công an Quận C; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 102/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị xử phạt tù có thời hạn về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger