TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 102/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28/11/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 -TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi.
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Dũng Nhân;
- Ông Trương Hoàng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đại Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 445/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Hải L, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...], do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cấp ngày 12/11/2021; cư trú tại: Tổ A, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1985; số căn cước công dân: [...], do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cấp ngày 08/9/2022; cư trú tại: Tổ A, ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 10 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Thị Hải L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh M tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh). Sau khi tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn thời gian đầu chị thấy cuộc sống hai vợ chồng hạnh phúc, từ tháng 7/2017 đến nay hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau về tính tình dẫn đến vợ chồng cự cãi nhau thường xuyên. Do tình cảm không còn và chị đã làm thủ tục ly hôn anh M vào ngày 20/8/2024 được Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh) giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST có hiệu lực pháp luật không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị đối với anh M. Mặc dù Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nhưng hai vợ chồng vẫn không đoàn tụ, vẫn sống ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay. Do đó nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc M.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, chị và anh M có một người con chung là cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 16/11/2009, hiện cháu Đ đang sống chung cùng với chị. Nay ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, còn vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị và anh M tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai của đương sự ngày 04 tháng 11 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Ngọc M trình bày:
- Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị L về quá trình tự nguyện chung sống vợ chồng, đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên trong cuộc sống hôn nhân giữa hai vợ chồng cũng có lúc mâu thuẫn nhỏ do hai vợ chồng không hợp nhau về tính tình và đôi lúc cũng cự cãi nhau do mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu. Sau nhiều lần cãi nhau anh và chị L đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay. Từ khi Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh) giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật không chấp nhận việc chị L yêu cầu ly hôn với anh, thì hai vợ chồng vẫn sống ly thân với nhau. Do anh còn thương vợ, thương con nên anh không đồng ý ly hôn với chị Dương Thị Hải L.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, anh và chị L có một người con chung là cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 16/11/2009. Hiện nay con chung đang sống cùng với chị L, nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh M không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên toà xét xử sơ thẩm:
- Nguyên đơn chị Dương Thị Hải L, bị đơn anh Nguyễn Ngọc M vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự;
+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị Hải L đối với anh Nguyễn Ngọc M.
Về con chung: Giao chị Dương Thị Hải L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 16/11/2009. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Dương Thị Hải L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
+ Về kiến nghị khắc phục: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Dương Thị Hải L, bị đơn anh Nguyễn Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Dương Thị Hải L, anh Nguyễn Ngọc M.
[2] Về hôn nhân: Chị Dương Thị Hải L và anh Nguyễn Ngọc M tự nguyện chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Tây Ninh) đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Chị L yêu cầu ly hôn, anh M không đồng ý ly hôn với chị L, vì anh M còn thương vợ, muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi các con. Quá trình giải quyết vụ án chị L và anh M đều thừa nhận trong quá trình chung sống hai vợ chồng không hợp nhau về tính tình dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, cự cãi và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay. Mặt khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành làm việc và giải thích cho anh M về việc hòa giải vụ án để anh M và chị L đoàn tụ vợ chồng, nhưng anh M không đến Tòa án để tham gia hòa giải và để giải quyết vụ án. Hơn nữa sau khi Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11- Tây Ninh) giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST có hiệu lực pháp luật không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L đối với anh M, tuy nhiên chị L và anh M vẫn không hàn gắn đoàn tụ vợ chồng với nhau. Điều này thể hiện hôn nhân giữa chị L và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị Hải L đối với anh Nguyễn Ngọc M.
[3] Về con chung: Chị Dương Thị Hải L và anh Nguyễn Ngọc M có một con chung cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 16/11/2009. Xét thấy hiện nay cháu Đ đang sống cùng chị L và cháu Đ có nguyện vọng sống cùng với mẹ, hơn nữa anh M đồng ý giao cháu Đ cho chị M nuôi dưỡng. Xét việc thỏa thuận giữa chị L và anh M là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, nên giao chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ là có căn cứ.
Quá trình giải quyết vụ án chị L đã được Tòa án giải thích cha không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nhưng chị L không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Dương Thị Hải L và anh Nguyễn Ngọc M không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Dương Thị Hải L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị Hải L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” với anh Nguyễn Ngọc M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị Hải L được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc M.
2. Về con chung: Giao chị Dương Thị Hải L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 16/11/2009. Ghi nhận chị Dương Thị Hải L không yêu cầu anh Nguyễn Ngọc M cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Ngọc M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị Dương Thị Hải L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Nguyễn Ngọc M không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thị Hải L và anh Nguyễn Ngọc M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Dương Thị Hải L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0006768, ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh T; chị Dương Thị Hải L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Dương Thị Hải L, bị đơn anh Nguyễn Ngọc M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Lợi |
Bản án số 102/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 102/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Dương Thị Hải L với anh Nguyễn Ngọc M
