|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 102/2025/HNGĐ - ST. Ngày: 27/3/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Bảo Long.
Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thái
Ông Hoàng Văn Long
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 588/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa 37/2025/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thanh T – sinh năm 1981; Nơi thường trú: Số D, Tập thể Công ty lắp máy điện nước và xây dựng, phường N, quận T, Hà Nội; Nơi cư trú: Ngõ D đường P, tổ dân phố số B, khu B, Tập thể cơ khí Giải phóng, xã T, huyện T, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn: Anh Ngô Quốc K – sinh năm 1978; Nơi thường trú: Số D, Tập thể Công ty lắp máy điện nước và xây dựng, phường N, quận T, Hà Nội; Nơi cư trú: Ngõ D đường P, tổ dân phố số B, khu B, Tập thể cơ khí Giải phóng, xã T, huyện T, Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại Tòa án nguyên đơn – Chị Vũ Thanh T trình bày:
- Về tình cảm:
Chị và anh Ngô Quốc K có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, quận T, thành phố Hà Nội ngày 02/11/2004 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến 19/10/2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh K không tôn trọng, luôn chửi bới, đánh đập, lăng mạ chị và con. Chị phải vì con mà chịu đựng 20 năm. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và chị xin được ly hôn với anh K.
- Về con chung:
Anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Minh P, sinh ngày 30/8/2005 và cháu Ngô Minh Đức A, sinh ngày 10/12/2006. Hai cháu đều đã trưởng thành, hiện đang ở cùng gia đình.
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất:
Anh chị không có tài sản, nợ chung hay nhà, đất chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí:
Chị tự nguyện nộp án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần tuy nhiên anh Ngô Quốc K vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến và cũng không có đơn xin vắng mặt gửi Toà án.
Tại phiên tòa chị Vũ Thanh T về cơ bản vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã trình bày trong quá trình tham gia tố tụng trước đây.
Đại diện viện kiểm sát nhân huyện T, thành phố Hà Nội, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về phiên toà sơ thẩm (Điều 223, Điều 224, Điều 225 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015); Đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Điều 12 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Thành phần Hội đồng xét xử đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 262 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Vũ Thanh T. Chị Vũ Thanh T được ly hôn với anh Ngô Quốc K.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Minh P, sinh ngày 30/8/2005 và cháu Ngô Minh Đức A, sinh ngày 10/12/2006. Hai cháu đều đã trưởng thành, tự lập, việc ở với ai do các cháu tự quyết định.
Về tài sản, nợ chung và nhà, đất chung: Đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, qua trao đổi với ông Ngô Trí T1 cảnh sát khu vực xã T được biết anh Ngô Quốc K và chị Vũ Thanh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường N, quận T, thành phố Hà Nội nhưng anh chị cùng gia đình thực tế cư trú, sinh sống tại Tổ dân phố số B, Khu B P, xã T, T, Hà Nội mà không đăng ký tạm trú tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Vì vậy Tòa án xác định địa chỉ tại Tổ dân phố số B, Khu B P, xã T, T, Hà Nội là nơi cư trú của bị đơn anh Ngô Quốc K và thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Ngô Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, tống đạt các văn bản tố tụng cho con trai anh ở cùng nhà là cháu Ngô Minh Đức A, sinh năm: 2006 để giao cho anh. Tuy nhiên anh K vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến, không có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngô Quốc K là đúng theo quy định tại điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Vũ Thanh T và anh Ngô Quốc K là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định vợ chồng chị Vũ Thanh T và anh Ngô Quốc K trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống hai bên không tìm được tiếng nói chung và thiếu sự quan tâm, chia sẻ, tình cảm vợ chồng có rạn nứt, không thể hàn gắn.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh K đến để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải. Anh K mặc dù biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Vũ Thanh T nhưng vẫn không có mặt theo giấy triệu tập, vắng mặt tại các buổi hòa giải và cũng không có bất kì văn bản, ý kiến nào gửi Tòa án.
Việc anh K không có mặt trong quá trình tố tụng của Tòa án thể hiện anh không có sự quan tâm cần thiết đến cuộc sống hôn nhân và không có ý thức vun đắp, hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị Vũ Thanh T và anh Ngô Quốc K không đạt được khiến cho mâu thuẫn giữa anh, chị ngày càng trầm trọng và không thể hoà giải.
Nay chị Vũ Thanh T có đơn xin ly hôn với anh Ngô Quốc K, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung:
Chị Vũ Thanh T và anh Ngô Quốc K có 02 con chung là cháu Ngô Minh P, sinh ngày 30/8/2005 và cháu Ngô Minh Đức A, sinh ngày 10/12/2006. Hai cháu đều đã trưởng thành, tự lập, việc ở với ai do các cháu tự quyết định
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất chung:
Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí:
Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
Chị T và anh K có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thanh T.
- Chị Vũ Thanh T được ly hôn với anh Ngô Quốc K.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Ngô Minh P, sinh ngày 30/8/2005 và cháu Ngô Minh Đức A, sinh ngày 10/12/2006. Hai cháu đều đã trưởng thành, tự lập, việc ở với ai do các cháu tự quyết định.
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị Vũ Thanh T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0056452 ngày 16/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thanh T có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Ngô Quốc K vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảo sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 102/2025/HNGĐ - ST. ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 102/2025/HNGĐ - ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thanh T.