Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 3 - 2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Duy Bảo
  2. Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2024/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1998; nơi thường trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu): Bà Võ Thị H1; sinh năm: 1964; Địa chỉ: xóm Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Trần Ngọc H2, sinh năm 1994; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và cư trú tại: Đài Loan (không rõ địa chỉ). Vắng mặt (lần thứ hai).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc H3, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 09/5/2024, Bản tự khai ngày 16/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị H trình bày: Chị và anh Trần Ngọc H2 kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/7/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì đến năm 2019 anh H2 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến tháng 02/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, trong cuộc sống xẩy ra nhiều mâu thuẫn không thể giảng hòa. Hiện nay anh H2 đang ở Đài Loan còn chị ở Việt Nam, vị trí địa lý xa xôi, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Ngọc H2. Tuy nhiên, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Cao Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Trần Ngọc H2 tại Đài Loan mà chỉ biết anh H2 vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Trần Ngọc H3, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1974; cùng địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và ông H3, bà V biết địa chỉ cụ thể của anh H2 ở Đài Loan nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Trần Ngọc H2 có 02 con chung là Trần Ngọc V1, sinh ngày 03/6/2017 và Trần Thị T, sinh ngày 03/02/2020. Hiện nay cháu Trần Ngọc V1 đang ở cùng với ông bà nội là ông Trần Ngọc H3, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1974; cùng địa chỉ cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An còn cháu T hiện đang sinh sống cùng chị. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Trần Ngọc V1 và Trần Thị T cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Trần Ngọc H2 cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Ngọc H2 vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 3151/QLXNC/XNC(Đ1) ngày 01/8/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh N thì: “Anh Trần Ngọc H2, sinh ngày 22/12/1994 đã sử dụng Hộ chiếu số B7366923 xuất cảnh vào ngày 10/09/2019 qua cửa khẩu S, chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh H2 ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H2 vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại biên bản xác minh ngày 27/12/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc H3 và bà Vũ Thị V (bố mẹ đẻ của anh Trần Ngọc H2) trình bày: Anh Trần Ngọc H2, sinh năm 1994 là con trai đầu của ông H3 và bà V. Anh Trần Ngọc H2 hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, ông H3, bà V không biết địa chỉ cụ thể của anh H2 ở đâu. Anh H2 thỉnh thoảng gọi điện về cho ông bà. Anh H2 đã biết việc chị H đang làm thủ tục xin ly hôn tại Tòa án, anh H2 không có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H2. Đối với con chung Trần Ngọc V1, sinh ngày 03/6/2017 và Trần Thị T, sinh ngày 03/02/2020 anh H2 có nguyện vọng nếu chị H đi lấy chồng mới thì anh H2 muốn nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con. Đồng thời ông H3, bà V không yêu cầu chị H và anh H2 thanh toán cho ông bà chi phí chăm sóc cháu V1 từ trước đến nay. Vì điều kiện đi lại khó khăn, xa xôi, còn phải chăm lo cho cháu nhỏ nên ông bà xin phép được vắng mặt tại các phiên tòa mà Tòa án mở để xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

+ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Cao Thị H được ly hôn anh Trần Ngọc H2.

+ Về con chung: giao hai cháu Trần Ngọc V1, sinh ngày 03/6/2017 và Trần Thị T, sinh ngày 03/02/2020 cho chị Cao Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H2 do chị H chưa có yêu cầu.

+ Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Cao Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 09/05/2004, chị Cao Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trần Ngọc H2. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị H và anh H2 đều có nơi thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nhưng từ khoảng năm 2019 thì anh H2 đã đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Trần Ngọc H2 là bị đơn và ông Trần Ngọc H3, bà Vũ Thị V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Ông H3, bà V đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Trần Ngọc H2, hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ năm 2019, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh H2 ở nước ngoài nhưng theo ông Trần Ngọc H3, bà Vũ Thị V (bố mẹ đẻ anh H2) thì anh H2 tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị H nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Ngọc H2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Ngọc H3, bà Vũ Thị V.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị H:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Cao Thị H và anh Trần Ngọc H2 được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và đã có với nhau 2 người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2023 cho đến nay mà không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh H2 lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân nhiều năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị H, ông H3 và bà V đều thống nhất trình bày: Vợ chồng chị H, anh H2 có hai con chung là Trần Ngọc V1, sinh ngày 03/6/2017 và Trần Thị T, sinh ngày 03/02/2020. Hiện nay cháu V1 đang sống cùng ông H3 và bà V, còn cháu T đang sống cùng với chị H. Nay ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu cấp dưỡng. Hội đồng xét thấy: Mặc dù từ trước đến nay cháu V1 đã ở cùng với ông bà nội nhưng theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của bố mẹ nên yêu cầu được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh H2 hiện nay đang ở nước ngoài; ông H3, bà V cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh H2 nên cần giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu nhưng không yêu cầu anh H2 cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

Về công sức trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Ngọc V1: ông H3, bà V là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V1 nhưng chưa yêu cầu chị H, anh H2 phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H2 cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Cao Thị H được ly hôn với anh Trần Ngọc H2.

2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Trần Ngọc V1, sinh ngày 03/6/2017 và Trần Thị T, sinh ngày 03/02/2020 cho chị Cao Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cao Thị H không yêu cầu và anh Trần Ngọc H2 cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

Anh Trần Ngọc H2 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Trần Ngọc H2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013539 ngày 20/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: chị Cao Thị H, ông Trần Ngọc H3 và bà Vũ Thị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Trần Ngọc H2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Tân Phú, huyện Tân Kỳ
  • (theo Giấy ĐKKH số 23/2016 ngày 07/7/2016);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Bảo     Trần Xuân Thành

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 102/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 102/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa H và H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger